Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Chiến lược xuất khẩu quốc gia ngành thủ công mỹ nghệ việt nam..doc

Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
nhằm đạt được mục tiêu tối cao của nhà nước là vì sự đi lên của vùng nông thôn, đặc biệt chú
trọng tới các chiến lược phát triển ngành thủ công kỹ thuật cao, nỗ lực đạt đuợc mục tiêu
ngành về tạo ra công ăn việc làm cho 4,5 triệu người.

1.2 Tiếp cận
Chiến lược xuất khẩu ngành thủ công mỹ nghệ nhằm mục đích phát triển một khuôn khổ trong
đó đáp ứng những mục tiêu về xúc tiến xuất khẩu ngành và thúc đẩy sự phát triển của ngành.
Dựa vào hoạt động đánh giá tổng thể về chuỗi giá trị hiện hành, hoạt động xuất khẩu, năng lực
cạnh tranh trong xuất khẩu, các nhân tố chủ yếu quyết định sự thành bại, các chính sách, chiến
lược liên quan của nhà nước và mạng lưới hỗ trợ ngành, chiến lược xuất khẩu ngành sẽ đề ra
một tầm nhìn dài hạn và đề xuất những hoạt động và biện pháp cần thực hiện trong khoảng
thời gian từ 1-5 năm tới.
Các công cụ chủ yếu được áp dụng là Phân tích chuỗi giá trị trên cơ sở tài liệu phân tích về tác
động của bốn bánh xe động lực của ITC. Một chuỗi giá trị gồm có tất cả các công ty mua và
bán sản phẩm từ một công ty nhằm cung cấp một sản phẩm đặc trưng hoặc một bộ sản phẩm
bao gồm cả những liên kết ngang và liên kết dọc. Trong ngành thủ công mỹ nghệ, chuỗi giá trị
có thể được mô tả như một tập hợp có sự liên kết của những nhà sản xuất nguyên liệu thô,
những nhà thu gom nguyên liệu, thương gia, các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ, nhà sản xuất,
bán buôn, bán lẻ, các nhà xuất khẩu trong nước và các nhà nhập khẩu, các nhà bán buôn, bán
lẻ và người sử dụng quốc tế trong chuỗi giá trị.
Cơ cấu bốn bánh xe động lực được sử dụng để xây dựng một chiến lược xuất khẩu ngành
mang tính tổng thể thông qua việc cân nhắc cẩn trọng hơn đối với bốn hạng mục về phát triển
chuỗi giá trị:
 Trong đường biên giới (Border-In): Phương thức này đề cấp đến những vấn đề liên
quan đến (1) phát triển năng lực liên quan đến nâng cao năng lực sản xuất về năng suất,
khối lượng, chất lượng và giá trị gia tăng; (2) đa dạng hoá năng lực như sản xuất ra các
dòng sản phẩm mới và/hoặc những sản phẩm liên quan; (3) phát triển vốn nhân lực gồm
phát triển nguồn nhân lực và các doanh nghiệp trong ngành.

 Tại đường biên giới (Border): Phương thức này đề cập đến những vấn đề liên quan đến:
(1) cải thiện cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển ngành; (2) thuận lợi hoá thương mại
nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất kinh doanh; và (3) giảm chi phí trong hoạt động kinh
doanh để duy trì sức cạnh tranh của ngành.
 Ngoài đường biên giới (Border-Out): Phương thức này đề cập đến những vấn đề liên
quan: (1) tiếp cận thị trường gồm có các hàng rào thuế quan, phi thuế quan và những vấn
đề thâm nhập thị trường liên quan khác; (2) dịch vụ hỗ trợ trên thị trường; và (3) xúc tiến
tầm quốc gia về xây dựng và củng cố hình ảnh của ngành trên các thị trường mục tiêu.
 Phát triển: Phương thức này đề cập đến những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế xã
5
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
hội của đất nước mà ngành đóng góp.
2 Hiện trạng của ngành
2.1 Các nhóm sản phẩm
Ngành thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam có thể được phân loại thành 10 tiểu ngành và các nhóm
cơ bản dưới đây:
(1) Tre/mây/cói/lá
(2) Gốm
(3) Gỗ
(4) Thêu
(5) Dệt
(6) Kim loại
(7) Giấy thủ công
(8) Các loại nguyên liệu khác nhau
(9) Tác phẩm nghệ thuật
(10)Khác.

Theo một báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Cơ quan hợp tác
Quốc tế Nhật Bản (JICA) thì sản xuất hàng thủ công ở tất cả những tiểu ngành này chủ yếu
dựa trên một hệ thống gồm 2.017 làng nghề trên toàn quốc.
Các làng nghề có thể tìm thấy trên khắp đất nước. Các làng nghề thường tập trung lớn ở các
tỉnh phía Bắc.
Tre, mây, cói và lá
Từ nguồn dồi dào nguyên liệu thô ở các địa phương như tre, mây, cói và lá và cũng gồm có
các nguyên liệu thô như guột, bèo tây, chuối hoặc rơm, Việt Nam sản xuất ra những đồ dùng
nhỏ, rổ, nôi, va-li, túi mua hàng, thảm lót (đĩa, cốc), bình phong và nhiều vật dụng khác.
Các sản phẩm được phục vụ cho mục đích sử dụng và trang trí. Sản phẩm rất đa dạng, phục vụ
những thị hiếu khác nhau của khách hàng.
Sản phẩm đan (rổ, giỏ) thu được kim ngạch xuất khẩu cao nhất. Các sản phẩm này được sản
xuất ở nhiều tỉnh thành trên cả nước nhưng hầu hết đến từ Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình, Thanh
Hoá, Khánh Hoà và Tiền Giang.
Trong các năm gần đây, xuất khẩu sản phẩm thủ công từ nguyên liệu bèo tây đã phát triển nở
rộ. Có nhiều làng nghề ở các tỉnh phía Nam như Tiền Giang, Đồng Tháp, Đồng Nai và thành
phố Hồ Chí Minh đặc biệt chuyên về các sản phẩm từ bèo tây.

6
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Hoạt động cung cấp nguyên liệu như tre/mây/cói/lá là một ngành tự thân có tầm quan trọng
đặc biệt đối thu nhập ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, các nguyên liệu thô dồi dào trước kia ngày
càng trở nên khan hiếm. Việt Nam hiện phải nhập khẩu tre từ Trung Quốc và mây từ Lào,
Campuchia và In-đô-nê-xi-a.
Nguyên liệu mây cần phải có sự lưu tâm đặc biệt do nó có truyền thống rất lâu đời. Việt Nam
đã luôn được nhìn nhận là một đất nước của mây (đứng thứ ba chỉ sau In-đô-nê-xi-a và Ma-
lai-xi-a) và người Việt Nam rất giỏi chế tạo các sản phẩm không chỉ từ các giỏ đan làm bằng
mây mà còn cả những đồ dùng bằng mây sử dụng trong nhà và ngoài trời. Ghế, bàn và ngăn
kéo mây sản xuất ở Việt Nam đã trở nên rất phổ biến ở nhiều nước như Đức, Italia và Mỹ với
nhu cầu thậm chí còn đang tăng lên.
Gốm
Nghề gốm của Việt Nam có thể được chia ra làm 04 nhóm chính: Bộ đồ ăn, bình và lọ hoa,
tượng và những vật dụng trang trí khác. Tuỳ thuộc vào công nghệ và nhiệt độ nung mà các sản
phẩm sẽ là gốm, sứ, sành hay đất nung
Nghề gốm đã có ở Việt Nam từ 10.000 năm nay và các cơ sở sản xuất gốm phân bổ trên khắp
cả nước. Tuy nhiên, một số trung tâm sản xuất sản phẩm gốm lớn nằm ở Hà Nội (Bát Tràng),
Đồng Nai và Bình Dương. Gần đây, các sản phẩm nghệ thuật làm từ sành phục vụ nhu cầu
trang trí nhà và vườn đã phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nam và Bắc
Ninh và đã thu hút đuợc sự chú ý đặc biệt của các nhà nhập khẩu trên khắp thế giới
Gỗ
Nhóm sản phẩm có ưu thế lớn của ngành gỗ là đồ dùng trong nhà, chiếm hơn 70% kim ngạch
xuất khẩu. Hầu hết hoạt động sản xuất đồ dùng làm từ gỗ tập trung ở các tỉnh khu vực phía
Bắc của Việt Nam như Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Hà Tây, trong khi đó thì
ngành chế biến gỗ công nghiệp lại chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Trung và Nam.
Các nhóm sản phẩm quan trọng tập trung vào sản phẩm bàn và đồ bếp. Ở Việt Nam, những
sản phẩm này chủ yếu được làm từ gỗ nhẹ hơn như gỗ thông và gỗ thích. Cũng có các hoạt
động sản xuất lớn về các phụ kiện như khung tranh, khung ảnh, khung gương.
Một số các sản phẩm thủ công đồ gỗ đòi hỏi sự tinh xảo như tượng, gỗ chạm khảm đang có xu
hướng gia tăng, đặc biệt phục vụ cho các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài
Loan…

Sản phẩm sơn mài
Các sản phẩm sơn mài (như lọ, bát, khay…) là nhóm sản phẩm đặc trưng của xuất khẩu hàng
thủ công Việt Nam. Hầu hết sản phẩm này được làm từ gỗ hoặc tre và đây là một nhóm nhỏ
của các sản phẩm làm từ gỗ hoặc tre/mây/cói/lá.
7
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Thêu và ren
Các sản phẩm thêu ren bằng tay hầu hết là khăn trải bàn, quần áo, váy, túi và những vật dụng
sử dụng thông thường. Những sản phẩm này được tạo ra chủ yếu ở các làng nghề trong các
tỉnh Hà tây, Thái Bình, Ninh Binh và Hà Nam.
Trước kia, những sản phẩm này chủ yếu được xuất khẩu sang các nước đông Âu nhưng ngày
nay, thị trường xuất khẩu đã mở rộng sang nhiều nước, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp
và Italia. Các nhà xuất khẩu sản phẩm này gặp nhiều khó khăn trong hoạt động thâm nhập thị
trường mới và cạnh tranh với các sản phẩm sản xuất bằng máy từ các nhà máy của Trung
Quốc.
Dệt

Sản phẩm dệt ở Việt Nam được tạo ra từ 432 làng nghề, trong đó có nhiều sản phẩm từ các
dân tộc thiểu số. Các nguyên liệu sử dụng phổ biến là lụa, cotton, len và sợi lanh. Hầu hết 90%
các làng nghề dệt đan phân bổ ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là khu vực đồng bằng Sông Hồng.
Quy mô sản phẩm dệt nhìn chung không đa dạng và hầu hết thành phẩm có giá trị gia tăng
thấp. Sản phẩm từ lụa và cotton là các nguồn thu nhập chính. Khăn tay làm từ cotton (ở Thái
Bình, Hà Tây, Nam Định…), sản phẩm dùng trong nhà tắm và nhà bếp làm từ các nguyên liệu
dệt khác (Ninh Bình, Hà Tây…) là một số những sản phẩm dệt có tiềm năng xuất khẩu cao
nhất. Tuy nhiên, hầu hết các nguyên liệu cotton thô đều phải nhập khẩu.
Nhóm khác gồm có các dân tộc thiểu số sống ở các khu vực miền núi sử dụng các khung cửi
và một số nguyên liệu đặc biệt và nhuộm màu tự nhiên. Đây là các nhóm sản phẩm có tiềm
năng phát triển rất tốt nếu chúng ta phát triển các thị trường ngách cũng như tập trung vào thị
trường thương mại bình đẳng.
Do những khó khăn về nguồn nguyên liệu thô, các nhà sản xuất đang ngày càng sử dụng các
nguyên liệu thô nhập khẩu giá rẻ, điều này sẽ làm giảm chất lượng các sản phẩm. Đối với các
sản phẩm dệt và các sản phẩm của người thiểu số định hướng để xuất khẩu, điều vô cùng quan
trọng quyết định đến thành công là sự sẵn có của nguyên liệu thô chất lượng cao, cải thiện
chất lượng và phát triển thị trường.
Kim khí mỹ nghệ
Các vật phẩm dùng để trang trí và sản phẩm quà tặng làm từ kim loại như tượng nhỏ, đồ trang
sức, chuông, chiêng và khung tranh. Trong số những sản phẩm này, các vật dụng như đồ mạ
bạc, đồ đồng chế tác và đồ đúc bằng đồng thiếc được xuất khẩu.
Gần đây, sản phẩm chế tác đồng đã tăng mạnh về kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt do sự kết hợp
giữa sản phẩm đồng chế tác với các nguyên liệu tự nhiên khác như mây, bèo tây và các
8
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
nguyên liệu khác. Trên cơ sở kết hợp nguyên liệu này, có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm đa
dạng trong thời điểm hiện nay.
Giấy thủ công

Hoạt động sản xuất giấy thủ công gần như đã biến mất ở Việt Nam trong các năm gần đây
mặc dù nó có lịch sử phát triển hàng nghìn năm. Nguyên liệu được sử dụng để sản xuất giấy
này rất phổ biến, từ gỗ (Dó, dướng) tới các sợi của chuối, dứa hay rơm, bên cạnh đó, có rất
nhiều các nghệ nhân có tay nghề cao trong sản xuất giấy.
Ngành giấy thủ công phát triển mạnh ở một số nước như Thái Lan, Nê-pan, Nhật Bản và Bờ-
ra-zin và nhu cầu về giấy thủ công (cho các sản phẩm quà tặng) dường như có xu hướng tăng
lên ở nhiều nước. Tiềm năng của tiểu ngành này cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc
không chỉ để bảo tồn một di sản truyền thống mà còn phát triển các loại sản phẩm mới. Gần
đây, Trung tâm Nghiên cứu, Hỗ trợ và Phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam (HRPC) đã
nghiên cứu nhiều kỹ thuật truyền thống, triển khai trên một nhóm gồm 50 nhà sản xuất ở Hoà
Bình và bắt đầu xuất khẩu sang Nhật Bản. Một công ty của Hàn Quốc đã đầu tư vào ngành
này ở Việt Nam dưới dạng công ty 100% vốn nước ngoài nhằm tối ưu hoá sự sẵn có về nguồn
lao động và nguyên liệu thô.
Nghệ thuật chế tác đá, xương, sừng, thuỷ tình hoặc kết hợp
Có 45 làng nghề chạm khảm/tạc đá trong nước. Mặc dù 90% phân bổ ở miền Bắc, nhưng
những làng nghề nổi tiếng nhất cả trong nước và quốc tế lại thuộc khu vực miền Trung (thành
phố Đà Nẵng).
Thiết kế đang thịnh hành về chạm khảm đá cơ bản tập trung vào hình ảnh tôn giáo, tượng
phật, tượng người, động vật và dụng cụ trong nhà. Thẩm mỹ của những thiết kế này cơ bản
thiên về châu Á. Đá rắn chủ yếu được sử dụng đối với các sản phẩm truyền thống như hình
ảnh về phật, hình ảnh động vật truyền thống, các cột kiến trúc trang trí, lồng cầu thang…
Nhiều thiết kế có thể được áp dụng đối với các loại đá mềm.
Đá trắng có thể được nhuộm thành nhiều màu khác nhau, do đó, có thể tương thích với những
thiết kế đa dạng. Những sản phẩm từ đá cho EU, Hoa Kỳ và Ca-na-đa gồm có tượng và các
vật dụng trong vườn. Sử dụng đá mềm đang có xu hướng tăng lên. Các nhà mua hàng nước
ngoài thường thích những thiết kế đơn giản và chưa hoàn thiện trên các sản phẩm đá thủ công.
Bên cạnh đá, sừng trâu và mai/vỏ (ốc, hến…) cũng được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm
như túi xách tay, bát, thìa…
Tác phẩm nghệ thuật
Như đã giải thích trước đó, trong mọi trường hợp, các tác phẩm nghệ thuật đều do một nghệ
nhân/người chủ cơ sở sản xuất. Chu trình sản xuất tổng thể hoàn toàn khép kín độc lập. Những
người sản xuất chuẩn bị nguyên liệu thô và hoàn thành chu trình sản xuất và họ có xu hướng
9
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
tự làm. Hầu hết sản phẩm của họ được bày bán ở những phòng trưng bày các tác phẩm nghệ
thuật và khách hàng của họ thường là khách du lịch nước ngoài. Một số người trong số họ đã
xuất khẩu thông qua những đơn hàng lẻ.
Các tác phẩm nghệ thuật chỉ chiếm chưa đến 1% kim ngạch xuất khẩu liên quan đến ngành và
có xu hướng giảm đi trong các năm gần đây.
Các sản phẩm thủ công khác
Cái gọi là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ “khác” ở đây gồm có nhiều loại vật phẩm từ
nến, sản phẩm dùng cho Giáng sinh, hoa giả, quả khô tới bộ gõ (như trống, kèn xắc-xô-phôn,
chũm choẹ, catanhet), búp bê, đồ chơi…
Sản phẩm trang sức chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm này. Đồ chơi đứng
thứ hai với 20% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu nến chiếm 7 triệu đôla Mỹ vào năm 2003.
Trừ đồ trang sức, hoạt động sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác đều rất kém phát
triển.
2.2 Chuỗi giá trị hiện nay của ngành.
Tất cả các nhóm ngành chính về gỗ, mây/tre/cói, gốm, dệt, thêu và sơn mài thông thường
được sản xuất thông qua các hộ gia đình nhỏ trong làng nghề. Mô hình về chuỗi giá trị của
những tiểu ngành khác nhau đều tương đồng và có thể tóm tắt theo sơ đồ sau đây:
Nguyên liệu thô hoặc là được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu. Các nhóm nguyên liệu
như mây, tre, cói, chạm khắc gỗ, gốm…, thường được các cá nhân hoặc các hộ sản xuất đơn
lẻ trực tiếp khai thác và thu hoạch từ các khu rừng lân cận ở địa phương hoặc ở các tỉnh khác
trong nước. Sau đó, họ bán nguyên liệu này cho những người thu gom với giá rất thấp để kiếm
sống hàng ngày.
Đối với các sản phẩm khác như dệt và thêu, hầu hết nguyên liệu thô gồm có vải hoặc chỉ được
nhập khẩu do nguyên liệu sẵn có trong nước chất lượng thấp. Tơ Việt Nam có chất lượng tốt
nhưng kỹ thuật nhuộm lại không đảm bảo.
10
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
Những nhà thu gom nguyên liệu thu thập nguyên liệu thô từ những nhà sản xuất nguyên
liệu, tiến hành phân loại cơ bản xong rồi họ vận chuyển nguyên liệu tới các nhà bán buôn ở
các tỉnh. Nhiều khâu trung gian tham gia vào mạng lưới này làm cho kênh nguyên liệu thô trở
nên phức tạp và làm nâng giá mặt bằng sản xuất.
Những nhà xử lý nguyên liệu thô thu mua nguyên liệu từ những nhà thu gom hay những
người bán buôn ở các tỉnh. Họ hoàn tòan khác những nhà sản xuất nguyên liệu/thu gom
nguyên liệu/nhà bán buôn do họ tham gia vào nhiều hơn khâu xử lý và bán nguyên liệu đã
được chế biến.
Các nhà sản xuất thường là các hộ gia đình tại làng nghề ở các khu vực nông thôn, đây là
lực lượng lao động chính trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Ngành gốm phát triển ở mức
độ cao hơn với sự xuất hiện của nhiều nhà máy tuyển dụng các lao động làm việc dài hạn.
Mặc dù mức thu nhập vẫn còn thấp, nhưng sản xuất hàng thủ công vẫn mang lại cho các hộ
nhỏ kiếm được nguồn thu phi nông nghiệp bền vững bên cạnh việc sản xuất lương thực cơ
bản. Trong nhiều trường hợp, thu nhập từ sản xuất hàng thủ công cao hơn so với sản xuất
nông nghiệp. Chẳng hạn, với công việc đan ghế mây, một người nông dân có thể kiếm được
trung bình 20.000 đồng/ngày (tương đương với 01 euro), số tiền này gấp hai lần so với việc
người đó kiếm được từ sản xuất lúa trên diện tích gieo trồng trung bình là 360 m
2
Mức thu nhập thay đổi từ một nhóm sản phẩm này so với nhóm sản phẩm khác, với những
người sản xuất đồ nội thất, tỉ lệ trung bình là 1,5 đôla Mỹ/ngày (thuộc diện thu nhập cao)
trong khi ở tiểu ngành thêu lại có mức thu nhập ở mức thấp nhất với trung bình khoảng 0,55
đôla Mỹ/ngày.
Sản xuất theo kiển hộ gia đình ở các khu vực nông thôn thực sự rẻ hơn so với sản xuất tại nhà
máy ở các thành phố lớn. Công nhân làm việc trong nhà máy ở Hà Nội sản xuất thành phẩm
kiếm được khoảng 50 đôla Mỹ một tháng, trong khi đó công nhân may trong các nhà máy may
kiếm được từ 70-80 đôla Mỹ một tháng.
Các nhà thu gom sản phẩm là những người sống tại các làng nghề và có vai trò như cầu nối
giữa những thương gia kinh doanh mặt hàng này với các nhà sản xuất. Họ giữ trọng trách đối
với nhiều loại công việc, từ cung cấp nguyên liệu cho người sản xuất (không thường xuyên),
giám sát sản xuất, thu gom hàng và đôi khi họ cũng phụ trách khâu hoàn thiện sản phẩm (xử
lý, nhuộm màu…) và đóng gói.
Các cơ sở kinh doanh hàng thủ công ở nông thôn là những doanh nghiệp sản xuất quy mô
nhỏ đặt tại các làng và có nhiều nhân công, có trang thiết bị căn bản và cũng thực hiện hoạt
động thu gom sản phẩm, giám sát sản xuất và hoạt động hoàn thiện sản phẩm.
Các nhà cung cấp máy móc hiện tại không có vai trò lớn do trang thiết sử dụng trong ngành
thủ công mỹ nghệ rất đơn giản, chỉ bao gồm lò nung gốm, máy sấy, máy tiện, máy nặn, máy
11
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
may nhỏ, máy khoan, thiết bị phun dùng cho sản xuất đồ nội thất hoặc máy may cho sản phẩm
dệt,…
Các nhà xuất khẩu tìm kiếm nguồn hàng từ các nhà sản xuất ở các làng nghề, các nhà thu
gom sản phẩm hoặc các nhà kinh doanh sản phẩm này ở nông thôn. Hầu hết các đơn hàng
thực hiện theo hình thức hợp đồng phụ (subcontract) với các nhà sản xuất. Trong một số
trường hợp, các nhà xuất khẩu cũng cung cấp cho các nhà sản xuất ở các làng nghề nguyên
liệu thô hoặc những cấu phần được làm sẵn.
Một phần của hoạt động sản xuất đang ngày càng có xu hướng được thực hiện tại nhà máy của
các nhà xuất khẩu (sản phẩm cần những kỹ năng hoặc trang thiết bị đặc biệt, khâu hoàn thiện
sản phẩm, sản xuất những cấu phần làm sẵn cho những thợ dệt và thợ gốm đòi hỏi công nghệ
hiện đại) với lực lượng lao động gồm vài trăm, thậm chí hàng ngàn người.
Trước đây, các nhà xuất khẩu hàng thủ công ở một số thành phố chính và các tỉnh khác hầu
như đều là những doanh nghiệp nhà nước. Vài năm trở lại đây, có sự gia tăng nhanh chóng về
số lượng các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân hoạt động kinh doanh rất thành công và
đang cạnh tranh mạnh với các doanh nghiệp quốc doanh. Các nhà xuất khẩu khu vực tư nhân
có tầm quan trọng ngày càng tăng.
Một cuộc khảo sát gần đây đã có được số liệu về tổng số các nhà xuất khẩu hàng thủ công ở
Việt Nam là 1.120
1
Các nhà nhập khẩu hầu hết là những nhà bán buôn ở Châu Âu, Châu Á hoặc Châu Mỹ, các
cửa hàng lớn ở nước ngoài và những chuỗi bán lẻ mua trực tiếp từ các nhà sản xuất hoặc xuất
khẩu của Việt Nam. Một số khách hàng quốc tế có đại lý hoặc văn phòng đại diện ở Việt Nam
để tìm kiếm các sản phẩm thủ công. Một vài người trong số họ là những doanh nghiệp lớn có
thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Những công ty nước ngoài này có vai trò quan trọng trên
thị trường và họ mua với số lượng lớn.
Toàn bộ khối lượng xuất khẩu hàng thủ công Việt Nam hiện nay phụ thuộc lớn vào một số rất
ít những nhà mua hàng lớn. Một chuỗi bán lẻ ở Châu Âu chiếm khoảng 20% khối lượng xuất
khẩu trên toàn quốc, một số ít hãng khác cũng nắm giữ vị trí quan trọng. Sự có mặt và các
hoạt động mua hàng của những chuỗi như vậy ở Việt Nam mang lại một lợi thế lớn cho đất
nước và cũng là lý do chính làm cho ngành có mức tăng trưởng nhanh chóng. Tuy nhiên, sự
chiếm ưu thế cũng là một mối đe doạ lớn do ngành phải phụ thuộc nhiều vào họ.
Thông thường, các công ty nước ngoài tìm kiếm sản phẩm thông qua các nhà xuất khẩu/công
ty tư nhân và những công ty xuất khẩu của nhà nước. Khách hàng thường lập kế hoạch sản
xuất của họ trước từ 3-6 tháng. Họ cung cấp cho các nhà xuất khẩu catalô, hình ảnh và những
bức vẽ cùng với mã hàng và đặt hàng theo các mã hàng của họ.
Các nhà bán lẻ trong nước, đặc biệt là các cửa hàng ở các thành phố lớn là Hà Nội và thành
1
Danh bạ các nhà xuất khẩu đồ nội thất và thủ công mỹ nghệ, Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam, 2006
12
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
phố Hồ Chí Minh cũng có vai trò quan trọng trong marketing sản phẩm thủ công của Việt
Nam. Các sản phẩm thủ công trưng bày ở những cửa hàng này hầu hết được các chủ cửa hàng
lấy từ các làng nghề hoặc do các nhà thu gom và đôi khi do các công ty tư nhân ở các làng
nghề giới thiệu.
Các cửa hàng tự phân biệt mình bằng chất lượng sản phẩm hàng hoá. Một số các cửa hàng
chuyên về các sản phẩm chất lượng cao. Trong trường hợp này, thu nhập của họ hầu hết là do
xuất khẩu cho các khách hàng nước ngoài và họ cũng đã mang đến khá nhiều thiết kế mới và
thông tin cho các làng nghề. Họ phát triển các sản phẩm mới như một chiến lược cạnh tranh
với các cửa hàng khác. Nhiều cửa hàng cũng nhằm vào đối tượng khách hàng là dân cư trong
nước và khách du lịch.
Các công ty giao nhận và kho vận hoặc là các công ty trong nước hoặc là các công ty nước
ngoài cung cấp nhiều loại hình dịch vụ, từ tờ khai và thủ tục hải quan tới thuê côngtenơ, thuê
tàu, vận chuyển nội địa… Cạnh tranh giữa các công ty vận chuyển rất khốc liệt. Mỗi công ty
thường có thế mạnh trên một tuyến vận chuyển cụ thể. Giá cước vận chuyển nhìn chung ở
Việt Nam cao hơn ở Trung Quốc.
Giá trị gia tăng từ một khâu trong chuỗi giá trị tới một khâu khác có thể được minh hoạ
thông qua hai sản phẩm cụ thể
2

Giá của các bên liên quan (Việt Nam) & tỉ lệ tăng giá
Nhà sản
xuất
(các) nhà
thu gom
Thương gia
trong nước
Nhà xuất
khẩu
Nhà bán lẻ
nước ngoài
Nệm cói
Ø50 x h4.5 cm
26.000 29.200 36.400 396.250
12% 24% 988%
Giá của các bên liên quan (Việt Nam) & tỉ lệ tăng giá
Nhà sản
xuất
(các) nhà
thu gom
Thương gia
trong nước
Nhà xuất
khẩu
Nhà bán lẻ
nước ngoài
Thảm cói
38 x 55 cm
3.700 5.200 6.100 6.832 33.285
40% 17%(*) 12% 387%
2.3 Đánh giá hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ giai đoạn 1999-2004
Có hai số liệu về xuất khẩu thủ công mỹ nghệ. Những số liệu này dựa trên những mã HS khác
22
Nguồn: Điều tra ở tỉnh Ninh Bình, tháng 01 năm 2006
13
Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành Thủ công Mỹ nghệ Việt Nam
nhau và do đó phân biệt đáng kể với khối lượng xuất khẩu chung.
Theo những con số từ Tổng cục Thống kê, xuất khẩu hàng thủ công có tỉ lệ tăng trưởng trung
bình là 10% từ năm 1999-2004 và chiếm tổng lượng xuất khẩu là 533 triệu đôla Mỹ năm
2004.
Bảng 1: Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ Việt Nam giai đoạn 1999-2004 (mã HS theo
cách xác định của Tổng cục Thống kê)
3
STT Hạng mục Năm (theo 1.000 đôla Mỹ)
N N 1999 2000 2001 2002 2003 2004
1 Mây, tre, cói, lá 62.200 78.647 93.857 107.921 136.092 171.018
HS 60/120,210,'6504,'940/150,380 H 26% 19% 15% 26% 26%
2 Gốm 83.078 108.393 117.082 123.480 135.860 148.655
HS '6913','6914' H 30% 8% 5% 10% 9%
3 Sơn mài 22.473 36.219 34.043 50.996 59.612 89.673
8 HS '7113','9601','9602' H 61% -6% 50% 17% 50%
4 Thêu 32.591 50.463 54.735 52.673 60.615 65.374
6 HS: '6302','5810' H 55% 8% -4% 15% 8%
5
Hàng thủ công làm từ gỗ ( HS:
44 /1400, 1900, 116.080 80.960 85.402 69.488 58.997 54.901
5 2000, 2010, 2090,2110, 2190) 2 -30% 5% -19% -15% -7%
6 Khác 15.207 13.869 9.192 5.344 5.069 3.477
3 HS:'57' H -9% -34% -42% -5% -31%
- Tổng 331.629 368.551 394.311 409.902 456.245 533.098
11% 7% 4% 11% 17%
Tuy nhiên nếu áp chuẩn HS của UNESCO và dựa vào kết quả thống kê của các HS này do
Tổng cục Thống kê công bố thì kim ngạch xuất khẩu của Việt nam cao hơn rất nhiều và đạt
952 triệu đôla Mỹ vào năm 2003, số liệu này gấp hai lần con số do cơ quan thống kê đưa ra.
Bảng 2: Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ Việt Nam giai đoạn 1999-2003 (mã HS theo
cách xác định của UNESCO)
4
Mô tả
Năm (theo 1.000 đôla Mỹ)
1999 2000 2001 2002 2003
Tổng
(5 năm)
1 Hàng thủ công làm từ gỗ 152.152 157.527 213.703 209.711 384.140 1.117.233
2 Dệt 113.460 126.766 141.021 168.970 162.862 713.080
3 Gốm 67.414 108.393 116.715 120.002 132.829 545.353
4 Mây, tre, cói, lá 62.499 78.730 95.878 113.379 142.673 493.158
5 Mỹ nghệ làm từ kim loại 2.723 1.020 4.850 8.836 19.029 36.459
6
Các sản phẩm nghệ thuật từ
đá, xương, sừng, thuỷ tinh 3.901 1.140 2.378 5.893 9.453 22.764
3
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
4
Nguồn: Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu, Hỗ
trợ và Phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam t
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét