Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành xuất khẩu thuỷ sản việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành xuất khẩu thuỷ sản việt nam": http://123doc.vn/document/1054384-thuc-trang-va-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cua-nganh-xuat-khau-thuy-san-viet-nam.htm


Tất cả những điều đó cùng với kỹ năng quản lý ngành ngày càng cao đã đa
ngành thuỷ sản trở thành ngành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế
quốc dân. ở nớc ta ngành thuỷ sản đã đợc khẳng định là ngành kinh tế mũi
nhọn và là một trong những hớng u tiên của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền
kinh tế (Nghị quyết TW 5, tháng 6 năm 1993 về đổi mới và phát triển kinh tế
nông thôn) bởi tiềm năng to lớn và những đóng góp thực tế của ngành vào nền
kinh tế quốc dân nớc ta hơn 10 năm qua.
1.2. Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất hỗn hợp gồm nhiều
ngành sản xuất chuyên môn hẹp
Do phần lớn sản phẩm cuối cùng đợc sản xuất từ nguồn nguyên liệu động
vật thuỷ sinh và đợc đa vào tiêu dùng sinh hoạt nên ngời ta coi thuỷ sản thuộc
nhóm ngành sản xuất ra các t liệu tiêu dùng (nhóm B). Trong thực tế, khi trình
độ khoa học kỹ thuật phát triển đại bộ phận sản phẩm thuỷ sản không đợc đa
vào tiêu dùng trực tiếp mà trở thành sản phẩm trung gian, nguyên liệu cho quá
trình sản xuất và chế biến.
Sản xuất thuỷ sản từ việc nuôi trồng, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi cho đến
khai thác phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên vùng địa lý, khí hậu, thuỷ
văn, giống, loại thuỷ sản nên sản xuất mang nhiều tính nông nghiệp. Mặt
khác, các ngành chuyên môn hẹp lại có tính công nghệ rõ rệt: công nghiệp
khai thác cá biển, cơ khí tàu thuyền, công nghiệp sản xuất thức ăn cho tôm,
cá, công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản.
Cơ chế thị trờng đòi hỏi ngành thuỷ sản phải có một hệ thống dịch vụ
chuyên ngành thích hợp nh: sửa chữa tàu thuyền, ng cụ, vận chuyển con
giống, mạng lới thơng mại thuỷ sản đến tận các cơ sở sản xuất sản xuất
chuyên môn hẹp ngày càng cao và phức tạp. Mặt khác, kinh doanh thơng mại
tổng hợp cũng tạo ra những hớng phát triển mới nh kết hợp với dịch vụ du
lịch.
5
2. Đặc điểm của ngành sản xuất - kinh doanh thuỷ sản
2.1. Đối tợng của sản xuất - kinh doanh thuỷ sản là những cơ thể sống
trong môi trờng nớc
Nh tên gọi của nó, thuỷ sản là những cơ thể sống trong môi trờng nớc,
có quy luật sinh trởng và phát triển riêng. Chúng là các loài động vật thuỷ sinh
có giá trị dinh dỡng và kinh tế cao: cá, nhuyễn thể, giáp xác và rong tảo trong
các loại hình nớc ngọt, lợ, mặn. Hoạt động sống của chúng dựa vào các chất
dinh dỡng lấy từ thuỷ vực, các khí oxy và cacbonic hoà tan trong nớc. Đây là
điểm hết sức khác biệt với sản xuất công nghiệp. Trong công nghiệp đối tợng
sản xuất là những vật vô tri, vô giác, nếu hỏng cái này có thể thay bằng cái
khác mà không phải phụ thuộc vào chu kỳ sống và sinh trởng của chúng.
Chúng cũng khác với đối tợng sản xuất nông nghiệp là các cây và con giống
sinh trởng trên cạn, lấy nguồn lực thức ăn từ đất, sử dụng O
2
và CO
2
trực tiếp
từ không khí. Khác biệt này đòi hỏi trong sản xuất thuỷ sản phải hết sức chú ý
đến các vấn đề nh:
- Nắm vững quy luật sinh trởng và phát triển từng loài thuỷ sản để có
biện pháp khai thác, nuôi trồng phù hợp.
- Quản lý và chăm sóc môi trờng nớc sản xuất, kinh doanh thuỷ sản.
- Hoàn thiện, bổ sung chính sách pháp luật về bảo vệ môi trờng nớc.
- Trong sản xuất kinh doanh thuỷ sản, thuỷ vực là t liệu sản xuất chủ
yếu không thể thay thế đợc. Thuỷ vực bao gồm các loại hình mặt nớc sông,
hồ, ao, biển là một loại t liệu sản xuất đặc biệt của ngành thuỷ sản.
Đối với mặt nớc tự nhiên, có hạn về diện tích, khối lợng nớc, cố định về
vị trí và gần nh không hao mòn trong quá trình sử dụng xét theo thời gian dài
với các mặt nớc lớn lại dễ bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con ngời. Theo
tập quán, con ngời thờng coi thuỷ vực là nơi thải rác sinh hoạt và các chất phế
thải công nghiệp bởi thuỷ vực có khả năng tự phân giải. Song nếu lợng chất
6
phế thải công nghệp quá lớn thì thuỷ vực không còn khả năng làm sạch nớc và
sẽ bị ô nhiễm. Đối với các ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác, nớc
chỉ là một yếu tố sản xuất, thậm chí còn ít có ý nghĩa kinh tế, song đối với sự
phát triển của thế giới tự nhiên, đặc biệt là thuỷ sản thì nớc là vấn đề sống còn
cho sự tồn tại và phát triển.
2.2. Sản xuất thuỷ sản đợc tiến hành phân tán rộng khắp các vùng địa lý và
mang tính khu vực rõ rệt
Chúng ta đều biết ở đâu có ao, hồ, sông, ngòi, biển là ở đó có nghề thuỷ
sản khai thác và nuôi trồng. Thuỷ vực đợc phân bố khắp các vùng địa lý, ở
mỗi quốc gia, phụ thuộc vào lịch sử hình thành các loại đất, quá trình sử dụng
và khai thác vào các mục đích khác nhau. Mỗi thuỷ vực có chế độ thuỷ lý hoá,
thuỷ văn khác nhau do đó các loài thuỷ sản cũng khác nhau về nhiều mặt.
2.3. Sản xuất thuỷ sản mang tính thời vụ cao
Dựa vào quy luật sinh trởng và phát triển của động thực vật thuỷ sinh,
con ngời tác động trực tiếp nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng có chất lợng và
năng suất cao, song các động thực vật nuôi trồng và khai thác còn phải chịu
tác động của tự nhiên. Vì vậy, mà thời gian lao động và thời gian của sản xuất
không trùng nhau đã tạo ra tính thời vụ của sản xuất thuỷ sản.
2.4. Đặc điểm riêng của sản xuất kinh doanh thuỷ sản Việt Nam
- Thuỷ sản nớc ta thuộc vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, ở các tỉnh phía Bắc
pha trộn ôn đới.
- Ngành thuỷ sản Việt Nam đã đi lên từ một nền sản xuất manh mún,
phân tán và rất lạc hậu tại các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và vùng ven
biển. Quá trình phát triển thăng trầm từ những năm 60 tới nay, ngành thuỷ sản
đã trở thành một ngành sản xuất chính trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù
vậy, hiện nay cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành còn nghèo nàn, lạc hậu khá xa
7
so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là công nghiệp chế
biến và khai thác xa bờ.
3. Vai trò của ngành xuất khẩu thuỷ sản đối với sự phát triển kinh tế xã hội
của Việt Nam
3.1. Đối với phát triển kinh tế ngành
3.1.1. Tạo tích luỹ ban đầu quan trọng cho hiện đại hoá ngành thuỷ sản
Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà
đầu t nớc ngoài tham gia hợp tác, đầu t phát triển nuôi trồng thuỷ sản, hiện đại
hoá công nghiệp chế biến xuất khẩu để tăng phần chế biến trong sản phẩm.
Tăng kim ngạch xuất khẩu làm tăng ngoại tệ, tạo điều kiện tích luỹ ban đầu
quan trọng cho hiện đại hoá ngành thuỷ sản.
3.1.2. Xuất khẩu có vai trò tích cực trong đổi mới trang thiết bị và công
nghệ sản xuất của ngành
Xuất khẩu thuỷ sản là hoạt động kinh doanh trên phạm vi thị trờng thế
giới, một thị trờng mà sự cạnh tranh ngày càng diễn ra quyết liệt. Hàng hoá
muốn tồn tại và phát triển phải phụ thuộc rất lớn vào chất lợng, giá cả, do đó
phụ thuộc rất lớn vào công nghệ sản xuất chúng. Từ đó đặt ra yêu cầu đối với
các doanh nghiệp sản xuất trong nớc phải luôn đổi mới, luôn cải tiến thiết bị,
máy móc nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm. Và chính hoạt động xuất khẩu
thuỷ sản cũng tạo điều kiện tiếp nhận thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến
để nâng cao chất lợng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của
ngời tiêu dùng.
3.1.3. Xuất khẩu thuỷ sản có vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện
ngành thuỷ sản
Xuất khẩu thuỷ sản góp phần mở rộng thị trờng, khai thác có hiệu quả
các nguồn lợi về biển gần bờ và xa bờ và phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Đồng
thời nâng cao trình độ đào tạo cán bộ quản lý trong kinh doanh. Xuất khẩu
8
cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập,
cải thiện đời sống ngời lao động trong ngành thuỷ sản và các ngành có liên
quan, góp phần ổn định chính trị, xã hội.
3.2. Đối với phát triển nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu thuỷ sản có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội
của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội của một nớc phát triển nh thế nào phụ
thuộc rất lớn vào kết quả hoạt động xuất khẩu. Thông qua xuất khẩu có thể
làm gia tăng ngoại tệ thu đợc, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu nhập cho
ngân sách, đồng thời kích thích đổi mới công nghệ cải biến cơ cấu kinh tế, tạo
thêm công ăn việc làm và nâng cao mức sống của ngời dân.
Đối với những nớc mà trình độ phát triển kinh tế còn cha cao nh nớc ta,
những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động. Còn những
yếu tố thiếu hụt nh vốn, thị trờng và khả năng quản lý. Chiến lợc hớng về xuất
khẩu thực chất là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật
của nớc ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nớc về lao động và tài
nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút
ngắn khoảng cách với nớc giàu.
Nh vậy, đối với mọi quốc gia cũng nh nớc ta, xuất khẩu nói chung và
xuất khẩu thuỷ sản nói riêng thực sự có vai trò quan trọng, thể hiện:
3.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ (vốn) cho nhập khẩu và tích luỹ phát triển
sản xuất, phục vụ công nghiệp hoá đất nớc
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất yếu
để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nớc ta. Để thực hiện
đờng lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trớc mắt chúng ta cần phải
nhập khẩu một số lợng lớn máy móc thiết bị hiện đại từ bên ngoài nhằm trang
bị cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu thờng dựa vào các nguồn chủ
yếu là: đi vay, viện trợ, đầu t nớc ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng
9
phải trả, còn viện trợ và đầu t nớc ngoài có hạn, hơn nữa các nguồn này thờng
bị phụ thuộc vào nớc ngoài. Vì vậy, nguồn vốn quan trọng để nhập khẩu chính
là nguồn vốn từ xuất khẩu. Nớc nào gia tăng đợc xuất khẩu thì nhập khẩu theo
đó cũng tăng theo.
3.2.2. Xuất khẩu thuỷ sản đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu nói riêng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung
Để chứng minh cho đóng góp của xuất khẩu thuỷ sản làm chuyển dịch cơ
cấu mặt hàng, ta có thể thấy qua số liệu của các năm 1991-2002. Nếu năm
1991 Việt Nam chỉ có 4 mặt hàng xuất khẩu giá trị trên 100 triệu USD (dầu
thô, dệt may, thuỷ sản và gạo) thì đến nay đã có thêm 11 mặt hàng nữa là: cà
phê, cao su, lạc nhân, chè, hạt điều, hạt tiêu, giầy dép, than đá, hàng linh kiện
điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ và hàng rau quả. Trong đó 4 mặt hàng có giá
trị trên 1 tỷ USD là thuỷ sản, dầu thô, hàng dệt may, và giầy dép. Năm 2000,
ngành thuỷ sản đã đạt thành tựu đáng kể kim ngạch xuất khẩu là 1,4786 tỷ
USD (chỉ sau dầu thô 3,501 tỷ USD và dệt may là 1,892 tỷ USD).
Mặt hàng thuỷ sản chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch
xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Theo Bộ Thuỷ sản,
năm 1999 là 10,5%, đến năm 2000 tăng lên 12,9% và năm 2002 đã tăng lên
14%. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 9,22%
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Và hiện nay, hàng thuỷ sản của Việt
Nam đã có mặt tại trên 105 nớc và vùng lãnh thổ. Mặt hàng xuất khẩu thuỷ
sản đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Từ vị trí xếp thứ 5 vào năm 1999 (sau: dầu thô, dệt may, Giầy Dép và gạo) thì
đến năm 2001 nó đã vơn lên vị trí thứ 3 (chỉ sau: dầu thô và dệt may). Kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng liên tục với tốc độ hàng năm đã thực sự đóng
góp tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói riêng và kim ngạch
xuất khẩu của cả nớc nói chung. Và chính sự tăng trởng của xuất khẩu thuỷ
sản cũng dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xuất khẩu thuỷ sản nói riêng
10
và xuất khẩu nói chung tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp liên
quan (ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó, sản xuất thức ăn, chế
biến ) cũng phát triển dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
3.2.3. Xuất khẩu thuỷ sản tác động tích cực đến giải quyết công ăn, việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân
Tác động của xuất khẩu thuỷ sản đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt.
Trớc hết thông qua hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản với nhiều công đoạn
khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập cao,
tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân.
Xuất khẩu thuỷ sản còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng
thiết yếu, phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất cho ngời lao động trong ngành
thuỷ sản và các ngành có liên quan.
3.2.4. Xuất khẩu thuỷ sản là một trong những cơ sở để mở rộng và thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc ta
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cờng sự hợp tác với các nớc, nâng
cao địa vị và vai trò của nớc ta trên thơng trờng quốc tế, xuất khẩu thuỷ sản và
công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nói chung, thúc đẩy quỹ tín dụng, đầu t,
mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác, chính quan hệ kinh tế đối ngoại mà
chúng ta kể trên lại tạo tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu. Có thể nói xuất
khẩu thuỷ sản không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát triển kinh tế
ngành thuỷ sản, phát triển nền kinh tế mà nó còn cùng với hoạt động nhập
khẩu nh là yếu tố bên trong trực tiếp tham gia vào giải quyết những vấn đề
thuộc nội bộ nền kinh tế. Đối với nớc ta hớng mạnh xuất khẩu nói chung và
xuất khẩu tuỷ sản nói riêng là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát
triển kinh tế đối ngoại, đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển
kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, qua đó tranh thủ
11
bắt kịp thời cơ ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch
về trình độ phát triển của Việt Nam so với thế giới.
Xuất khẩu thuỷ sản có một vai trò rất quan trọng không chỉ riêng đối với sự
phát triển của ngành thuỷ sản mà nó còn có một vai trò to lớn đối với sự phát
triển chung của nền kinh tế đất nớc. Vì vậy chúng ta cần nghiên cứu và tìm ra
giải pháp để phát triển hơn nữa ngành thuỷ sản.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
1. Các nhân tố trong nớc
1.1. Khả năng cung cấp nguyên liệu thuỷ sản
1.1.1. Năng lực khai thác hải sản
Nằm ở khu vực Biển Đông, biển Việt Nam có tính chất nh một vùng biển
kín. Vịnh Bắc Bộ tơng đối nông, mức sâu nhất không quá 90 m. Nhờ đặc điểm
địa hình, biển nớc ta thuộc loại giàu hải sản, với 2100 loài cá đã biết, trong đó
có hơn 130 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lợng cá khoảng 3 triệu tấn/năm, sản
lợng cho phép khai thác từ 1,2-1,4 triệu tấn/năm. Giáp xác có 1647 loài, trong
đó tôm hơn 70 loài, nhiều loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao. Nhuyễn thể
thân mềm khoảng 2500 loài khác nhau với những loài có giá trị kinh tế cao
nh mực, sò huyết, hải sâm, bào ng Ngoài ra có trên 600 loài rong biển, trong
đó nhiều loài có thể làm thực phẩm hoặc nguyên liệu, chất phụ gia cho công
nghiệp, bánh kẹo Với 3260 km bờ biển, 112 cửa sông, lạch, có vùng nội
thuỷ và lãnh hải rộng 226.000km
2
, hơn 1 triệu km
2
vùng biển đặc quyền của ta
là một nơi cho phép khai thác với số lợng lớn các sản phẩm phục vụ cho tiêu
dùng nội địa và chế biến xuất khẩu ra thị trờng thế giới.
12
Bảng 1: Trữ lợng và khả năng khai thác hải sản của Việt Nam (đơn vị tính: tấn)
Loại hải sản
Trữ lợng (tấn) Khả năng khai thác (tấn)
Tổng số Gần bờ Xa bờ Tổng số Gần bờ Xa bờ
Tổng số 3.940.078 1.081.625 2.588.464 1.879.219 495.341 1.383.878
Cá biển 3.764.370 999.095 2.765.275 1.809.248 461.738 1.347.510
Mực ống 59.113 30.882 28.231 23.644 12.235 11.292
Mực nang 64.140 30.331 33.809 25.655 12.132 13.523
Tôm he 10.884 9.884 1.000 5.492 4.942 550
Tôm vỗ 41.582 11.433 30.149 15.180 4.177 11.003
Cơ cấu % 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00
Cá biển 95.54 92.37 96.74 96.28 93.22 97.37
Mực ống 1.50 2.86 0.99 1.26 2.49 0.82
Mực nang 1.63 2.80 1.18 1.37 2.45 0.98
Tôm he 0.28 0.91 0.03 0.29 1.00 0.04
Tôm vỗ 1.06 1.06 1.05 0.81 0.84 0.80
Nguồn: Bộ Thuỷ sản
13
Qua đó ta thấy tiềm năng hải sản rất lớn nhng ngành khai thác hải sản
của chúng ta mới khai thác đợc khoảng 31,47% trữ lợng hải sản và khoảng
66% khả năng khai thác cho phép. Ngoài ra, chúng ta có thể khai thác hàng
trăm nghìn tấn nhuyễn thể vỏ cứng (nh nghêu, sò, ốc ), rong, tảo, các loại đặc
sản quý hiếm khác.
Tuy nhiên, sản lợng đánh bắt xa bờ của ta còn thấp do thiếu vốn đầu t,
ng dân cha có kinh nghiệm và kỹ thuật đánh bắt xa bờ, công nghệ bảo quản
sau thu hoạch còn rất yếu kém, thô sơ dẫn đến chất lợng đa vào chế biến thấp.
Cùng với chơng trình đánh bắt xa bờ, nếu chú trọng làm tốt các khâu bảo quản
ngay trên biển và tại bờ, giảm mạnh các thất thoát sau thu hoạch thì sẽ tạo ra
một tiềm năng rất lớn về nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu thuỷ sản, sẽ cải
thiện đợc tình hình, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.
1.1.2. Năng lực nuôi trồng thuỷ sản
Ngày 08/12/1999, Thủ tớng Chính phủ đã ra quyết định số 224/1999/QĐ-
TTg phê duyệt chơng trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010.
Đó chính là cơ sở đầu tiên cho việc lập các dự án khả thi để đầu t vào nuôi
trồng của ngành thuỷ sản. Theo hớng đó chúng ta có thể đầu t các trang thiết
bị cũng nh công nghệ hiện đại vào việc nuôi trồng theo quy mô công nghiệp,
có sản lợng hàng hoá đủ khả năng với chất lợng nguyên liệu cao, giá cạnh
tranh, đáp ứng nhu cầu cho xuất khẩu. Diện tích mặt nớc nuôi thuỷ sản còn có
thể sử dụng với cờng độ cao hơn, nhiều vùng bãi triều và vùng đất nhiễm mặn
ven biển thuận lợi để đa vào phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản, còn có thể sử
dụng 300-350 nghìn ha; các eo vịnh biển có thể đa vào quy hoạch nuôi biển và
xây dựng khu bảo tồn sinh vật biển. Một số vùng đất hoang hoá ven biển cao
triều nh ở vùng Nam Trung Bộ có thể rất thích hợp để phát triển nuôi thuỷ sản
theo quy mô công nghiệp. Nếu đầu t để chuyển đổi công nghệ, năng suất nuôi
ở các thuỷ vực này sẽ tăng lên đáng kể, đặc biệt việc phát triển nuôi các đối t-
ợng có giá trị xuất khẩu cao.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét