Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần may 10


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần may 10": http://123doc.vn/document/1053304-nang-cao-hieu-qua-su-dung-tai-san-tai-cong-ty-co-phan-may-10.htm


Chuyên đề tốt nghiệp
Hai là, giá trị của tài sản cố định bị giảm dần do chúng bị hao mòn, biểu
hiện là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng.
Có 2 loại hao mòn tài sản cố định là: hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình. Hao mòn hữu hình là hao mòn do doanh nghiệp sử dụng và tác động
của tự nhiên như bị rỉ sét, bị gãy hỏng, bị axid ăn mòn Mặt khác, hao mòn
vô hình lại xảy ra do tiến bộ khoa học - công nghệ, làm cho tài sản cố định
bị giảm giá hoặc bị lỗi thời.Giá trị của tài sản cố định được chuyển dịch từng
phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ. Phần giảm về giá trị này sẽ được hạch
toán vào chi phí sản xuất và được hoàn lại khi sản phẩm, dịch vụ được tiêu
thụ. Khi đó, doanh nghiệp sẽ trích lại thành quỹ khấu hao để tái đầu tư vào
tài sản cố định.
Như vậy, ta có thể hiểu tài sản cố định của doanh nghiệp là những tư liệu
lao động chủ yếu có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất, còn giá
trị của nó thì được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu
kì sản xuất.
* Phân loại tài sản cố định
Tài sản cố định trong doanh nghiệp thường được phân loại thành:
- Tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh.
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc
phòng.
- Tài sản cố định bảo quản hộ, cất giữ hộ.
Việc phân loại ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý và sử dụng tài
sản cố định, ở đây chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu tài sản cố định phục vụ
mục đích kinh doanh kiếm lời. Loại này bao gồm:
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tài sản cố định vô hình: những tài sản cố định không có hình thái vật
chất cụ thể.
- Tài sản cố định hữu hình: những tài sản cố định có hình thái vật chất
cụ thể. Loại tài sản cố định này được chia thành các loại sau:
+ Loại 1 : Nhà cửa vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh
nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng, như trụ sở làm
việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà
cửa, đường sá, cầu cống,
+ Loại 2 : Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị
dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như máy móc chuyên
dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, những máy móc khác,
+ Loại 3 : Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại
phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường ống và các
thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước,
băng tải,…
+ Loại 4 : Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ
dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như
máy vi tính phục vụ cho quản lý, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng,
máy hút ẩm, hút bụi,…
+ Loại 5 : Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm
như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ , súc vật
làm việc, súc vật cho sản phẩm như đàn ngựa, đàn voi, đàn bò.
+ Loại 6 : Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản chưa
liệt kê vào các loại nêu trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật.
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.2. Tài sản lưu động
Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động gồm những đối tượng lao động
và tư liệu lao động không thoả mãn điều kiện về giá trị và thời gian trên đây.
Đối tượng lao động là yếu tố vật chất của sản phẩm, thông qua quá trình sản
xuất đối tượng lao động đã biến thành thực thể của sản phẩm. Do đó, nó chỉ
tham gia vào một chu kì sản xuất mà thôi; đến chu kì sản xuất sau, muốn tạo
sản phẩm mới cần phải sử dụng đối tượng lao động mới. Như vây, có thể
hiểu:
Tài sản lưu động là những tài sản ngấn hạn, thường xuyên luân
chuyển trong quá trình kinh doanh và chỉ tham gia vào một chu kì sản
xuất kinh doanh.
* Đặc điểm của tài sản lưu động
- là tài sản ngắn hạn, không ngừng luân chuyển trong quá trình sản
xuất kinh doanh, do đó có tính thanh khoản cao nhất.
- chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh, không giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần
vào giá trị sản phẩm.
* Phân loại tài sản lưu động
Căn cứ vào vai trò của tài sản lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh, tài sản lưu động trong doanh nghiệp được phân chia thành :
- Loại 1: Tài sản lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất: bao gồm
nguyên nhiên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ ting
thay thế, vật đóng gói, công cụ lao động.
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Loại 2: Tài sản lưu động trong quá trình sản xuất: bao gồm sản phẩm
đang chế tạo dở dang trong quá trình sản xuất, bán thành phẩm, chi
phí chờ phân bổ.
- Loại 3: Tài sản lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm thành phẩm,
các khoản phải thu và tiền.
Căn cứ theo hình thái biểu hiện, tài sản lưu động gồm:
- Tiền và các chứng khoán ngắn hạn.
- Các khoản phải thu.
- Hàng tồn kho
- Tài sản lưu động khác.
Căn cứ theo nguồn hình thành, tài sản lưu động được tài trợ bởi 2 nguồn
chính là: nguồn nợ ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn) và vốn chủ sở hữu.
1.1.3. Quản lý tài sản trong doanh nghiệp
1.1.3.1. Quản lý tài sản cố định
Do những đặc điểm trên, việc quản lý tài sản cố định cần phải thực hiện
trên 2 phương diện: quản lý hiện vật và quản lý giá trị.
* Quản lý hiện vật
Phương thức quản lý này yêu cầu doanh nghiệp phải tiến hành phân loại
tài sản cố định theo những tiêu thức khác nhau, để từ đó có những biện pháp
quản lý và sử dụng tài sản cố định có hiệu quả hơn.
Ngoài ra, việc đảm bảo quản lý một cách liên tục và có hệ thống cũng rất
quan trọng. Muốn vậy, doanh nghiệp phải đảm bảo quản lý sổ sách kế toán
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
theo dõi được hiện trạng của tài sản cố định theo phương thức hợp lý như:
theo dõi số lượng, giá trị tài sản; công suất của máy so với công suất thiết
kế; tình trạng máy so với chất lượng sản phẩm sản xuất; tình trạng bảo
dưỡng, sửa chữa máy,
* Quản lý về mặt giá trị
Phương thức quản lý này gắn liền với công việc tính khấu hao tài sản cố
định và quản lý, sử dụng quỹ khấu hao của doanh nghiệp.
Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao
mòn là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan. Có 2 nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định là:
- Do quá trình sử dụng và do tác động của môi trường, hình thái vật chất
của tài sản cố định bị tác động như: bị biến dạng, gãy hỏng, gọi là
hao mòn hữu hình.
- Do tiến bộ của khoa học - công nghệ, làm cho tài sản cố định bị giảm
giá hoặc bị lỗi thời, như: làm xuất hiện nhiều tài sản cố định có năng
lực như tài sản cũ nhưng giá rẻ hơn, hoặc dây chuyền công nghệ bị lạc
hậu so với sự tiến bộ khoa học kĩ thuật, gọi là hao mòn vô hình.
Do tài sản cố định bị hao mòn nên trong mỗi chu kì sản xuất nên người
ta tính chuyển một lượng giá trị tương đương với phần hao mòn vào giá
thành sản phẩm. Khi sản phẩm được tiêu thụ, bộ phận tiền này được trích lại
một quỹ nhằm tái sản xuất tài sản cố định, công việc đó gọi là khấu hao tài
sản cố định. Như vậy, đối với doanh nghiệp, việc tính toán mức khấu hao tài
sản một cách chính xác và phù hợp với thực trạng kinh doanh là rất quan
trọng.
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương pháp trích khấu hao thông thường được sử dụng tại các doanh
nghiệp chủ yếu là 2 phương pháp: khấu hao theo đường thẳng và khấu hao
gia tốc giảm dần.
* Phương pháp trích khấu hao theo đường thẳng
Nội dung chính của phương pháp này là trích một lượng khấu hao cho tài
sản cố định bằng nhau ở mỗi kì, do đó phương pháp này còn được gọi là
phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian.
Theo phương pháp này, khấu hao tài sản cố định được tính theo công
thức:
NG
M
KH
=
T
Trong đó:
M
KH
: Mức khấu hao năm t
NG : Nguyên giá tài sản
T : Thời gian sử dụng định mức tài sản cố định, có 2 loại:
thời gian sử dụng định mức về kĩ thuật và về kinh tế.
Nguyên giá của tài sản cố định được xác định như sau:
NG = NGB - D + C1
Trong đó:
NGB : Giá mua ghi trên hoá đơn
D : Chiết khấu mua hàng
C1 : Chi phí vận chuyển lắp đặt và chạy thử lần đầu
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với tài sản cố định cho thuê tài chính, nguyên giá tài sản phản ánh ở
đơn vị thuê tài sản cố định là giá trị hiện tại của các khoản chi trong tương
lai, được xác định như sau:
+ Nếu hợp đồng thuê tài sản cố định có quy định tỷ lệ lãi suất phảI
trả theo năm:
NG =
t
n
t
i
G
)1(
1
1
+

=
Trong đó :
NG : Nguyên giá tài sản cố định thuê tài chính.
G : Giá trị các khoản chi bên thuê phảI trả mỗi năm theo
hợp đồng thuê.
i : lãi suất vay vốn tính theo năm ghi trong hợp đồng thuê.
N : Thời hạn thuê theo hợp đồng thuê tài sản cố định.
+ Nếu trong hợp đồng không quy định lãi suất thì tỷ lệ lãi suất
được xác định theo lãi suất vay vốn trên thị trường nhưng không vượt quá
trần lãi suất cơ bản do Ngân Hàng Nhà nước công bố cho từng kì hạn vay
vốn tương ứng.
+ Nếu trong hợp đồng thuê tài sản cố định đã xác định tổng số tiền
bên đi thuê phải trả cho cả giai đoạn thuê, trong đó ghi rõ số tiền lãi phải trả
cho mỗi năm thì ở đơn vị thuê, nguyên giá tài sản cố định thuê tài chính
được xác định là:
NG =

− ).( nIG

Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó:

G
: Tổng số nợ phải trả theo hợp đồng thuê
I : Số tiền lãi phải trả mỗi năm
n : Số năm thuê tài sản
Tính khấu hao theo phưong pháp đường thẳng có ưu điểm là: đơn giản
và dễ tính. Tuy nhiên do mức khấu hao tính được là số cố định và đều đặn
hàng năm nên khả năng thu hồi vốn chậm và tài sản cố định không thể tránh
khỏi bị hao mòn vô hình.
* Phương pháp khấu hao gia tốc giảm dần, có 2 cách tính:
+ Tính khấu hao theo giá trị còn lại: Theo cách này, mức khấu
hao tài sản cố định hàng năm được tính theo công thức:
M
KH(t)
= T
KH(đc)
x GTCL(t)
Trong đó:
M
KH(t)
: Mức khấu hao năm thứ t
GTCL(t) : giá trị còn lại của tài sản cố định năm thứ t
T
KH(đc)
= T
KH
x hệ số điều chỉnh.
Hệ số điều chỉnh luôn được xác định lớn hơn 1 và thời gian sử dụng tài
sản cố định càng dài thì hệ số điều chỉnh càng lớn. Do vậy, T
KH(đc)
thường lớn
hơn T
KH
( tỷ lệ khấu hao thường).
Tính khấu hao theo giá trị còn lại có ưu điểm là: trong vài năm đầu
doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh, do đó có khả năng tái tạo được tài
sản cố định và tránh được sự giảm giá do hao mòn vô hình.
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Tính khấu hao theo tỷ lệ khấu hao giảm dần: Theo cách này,
để tính mức khấu hao tài sản cố định hàng năm người ta sử dụng công thức:
M
KH(t)
= T
KH(t)
x NG
T
(t)
Với : T
KH(t)
=
T
(i)
Trong đó:
T
KH(t)
: Tỷ lệ khấu hao năm thứ t
NG : Nguyên giá tài sản cố định
n : Thời gian phục vụ của tài sản cố định
T
(t)
hoặc T
(i)
: Số năm còn lại của tài sản cố định từ năm
thứ t hoặc thứ i đến hết thời hạn phục vụ (n)
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là với 1 mức nguyên giá cố
định, số tiền khấu hao hàng năm của tài sản cố định phụ thuộc vào sự biến
động của tỷ lệ khấu hao. Phương pháp này có ưu điểm là: phản ánh chính
xác hơn mức độ hao mòn của tài sản, hạn chế được rủi ro do ảnh hưởng của
hao mòn vô hình, nhưng nhược điểm của nó là: tính toán khấu hao phức tạp,
phí khấu hao không đều qua các năm. Khi áp dụng phương pháp này, doanh
nghiệp cần chú ý tới khả năng trang trải chi phí kinh doanh của mình.
Ngoài ra, còn có các phương pháp tính khấu hao khác như:
+ Khấu hao tăng dần.
+ Khấu hao tính một lần khi kết thúc dự án.
+ Khấu hao toàn bộ ngay lập tức khi dự án mới đi vào vận hành tạo ra
thu nhập.
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, phương pháp trích khấu hao theo
đường thẳng được áp dụng nhiều nhất.
Trên phương diện doanh nghiệp, quản lý tài sản cố định còn phải xem
xét đến việc quản lý số khấu hao luỹ kế hay còn gọi là tổng số dư của quỹ
khấu hao. Mục đích của việc tạo lập quỹ khấu hao là để tái đầu tư, thay thế,
đổi mới tài sản cố định. Tuy nhiên, khi tài sản cố định còn chưa dược khấu
hao hết, chưa được thay mới thì khấu hao được tích luỹ ,và doanh nghiệp có
quyền sử dụng số khấu hao luỹ kế đó cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình. Với doanh nghiệp Nhà nước thì việc sử dụng số khấu hao luỹ kế cần
tuân theo các quy định về chế độ tài chính hiện hành của Nhà nước.
Quản lý quá trình mua sắm, sửa chữa, nhượng bán và thanh lý tài sản cố
định phải được thực hiện thông qua nghiên cứu dự án đầu tư của doanh
nghiệp.
1.1.3.2. Quản lý tài sản lưu động
Quản lý tài sản lưu động bao gồm các nội dung chủ yếu là: quản lý tiền
mặt và các chứng khoán thanh khoản cao, quản lý các khoản phải thu, quản
lý dự trữ, tồn kho.
a) Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp tại ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên
liệu, mua tài sản cố định, trả nợ Tiền mặt bản thân nó là một tài sản không
sinh lãi, do đó trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt
phải nắm giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy nhiên, việc nắm giữ tiền mặt
trong kinh doanh cũng là một vấn đề cần thiết vì những lý do sau:
Nguyễn Kim Ngân Lớp: TCDN 44A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét