Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

phát triển hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại công ty chứng khoán ngân hàng công thương


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phát triển hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại công ty chứng khoán ngân hàng công thương": http://123doc.vn/document/1050830-phat-trien-hoat-dong-tu-van-dau-tu-chung-khoan-tai-cong-ty-chung-khoan-ngan-hang-cong-thuong.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ cho hoạt động giao dịch chứng khoán trên
thị trường.
1.1.1.2. Đặc điểm của công ty chứng khoán
Là một chủ thể kinh doanh, Cty chứng khoán cũng có những điểm tương
đồng với các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, sản phẩm và dịch vụ mà Cty
chứng khoán cung cấp đều liên quan đến chứng khoán đã làm cho Cty chứng
khoán mang những đặc trưng khác riêng. Không những thế các Cty chứng
khoán ở các nước khác nhau cũng có thể có điểm khác nhau, thậm chí ở trong
cùng một quốc gia các Cty chứng khoán vẫn có nhiều sự khác biệt tùy thuộc
vào tính chất hoạt động của Cty và mức độ phát triển của thị trường. Song xét
về bản chất các Cty chứng khoán có một số đặc trưng cơ bản sau :
• Về loại hình tổ chức của Cty chứng khoán
Trong lịch sử và trên thực tế, Cty chứng khoán đã từng được tồn tại dưới
nhiều loại hình tổ chức như công ty cổ phần, doanh nghiệp góp vốn, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp liên doanh. Mỗi
loại hình này đều có những ưu thế, bất lợi riêng, trong đó loại hình doanh
nghiệp: công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn với những ưu điểm
về quyền sở hữu, khả năng huy động vốn, năng lực điều hành, tư cách pháp
lý… rất phù hợp với nghiệp vụ chứng khoán đã trở thành sự lựa chọn phổ
biến ở các quốc gia.
• Về mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán
Việc xác định mô hình tổ chức kinh doanh của Cty chứng khoán không
đơn giản chỉ là quyết định của bản thân công ty mà hơn thế nó mang tính
pháp luật, thể hiện ở chỗ: những người làm công tác quản lý Nhà nước sẽ cân
nhắc, lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất với đặc điểm của hệ thống tài chính,
hệ thống pháp luật, mức độ phát triển của nền kinh tế. Từ đó, các Cty chứng
khoán chỉ được phép hoạt động theo những mô hình đã lựa chọn.
Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình phổ biến về Cty chứng khoán:
- Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các Cty
chứng khoán độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận,
các ngân hàng không đuợc tham gia vào kinh doanh chứng khoán.
Với ưu điểm hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho
TTCK phát triển, mô hình này đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp
dụng, trong đó có các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Canada,
Thái lan…
Những năm gần đây, các nước áp dung mô hình này có xu hướng nới
lỏng dần những hạn chế đối với ngân hàng thương mại trong nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán, từng bước xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa loại hình kinh
doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khoán.
- Mô hình công ty đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại được phép thực hiện các
nghiệp vụ chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia
thành 2 loại:
+ Loại đa năng một phần: Muốn tham gia kinh doanh chứng khoán trên
TTCK, các ngân hàng thương mại phải thành lập Cty chứng khoán trực thuộc,
hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ.
+ Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng thương mại được phép tham
gia hoạt động kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh
doanh tiền tệ và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật
Mô hình đa năng có ưu điểm là các ngân hàng thương mại có thể thực
hiện đa dạng hóa, giảm bới rủi ro, tăng khả năng chịu đựng những biến động
của thị trường tài chính. Bên cạnh đó, ngân hàng còn tận dụng được thế mạnh
về chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn, mạng lưới khách hàng để kinh
doanh chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ những hạn chế nhất
định như không thúc đẩy được thị trường cổ phiếu phát triển vì các ngân hàng
có xu hướng bảo thủ thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ
trên thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khoán, quản lý danh mục đầu tư. Và một khi thị trường có biến động thì nó có
thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng nếu các ngân
hàng không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh tiền tệ và kinh doanh
chứng khoán.
• Về tính chuyên môn hóa và phân cấp quản lý
Các Cty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận,
từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ.
Nếu như ở các doanh nghiệp sản xuất, trong quy trình sản xuất sản phẩm
giữa các khâu phải có mắt xích kết nối, một sản phẩm ra đời nó phải trải qua tất
cả các công đoạn một, không thể thiếu một công đoạn nào. Trong khi đó, toàn bộ
các nghiệp vụ của Cty chứng khoán đều phục vụ cho các giao dịch chứng khoán
những mỗi một nghiệp vụ lại liên quan đến một góc cạnh riêng. Các phòng ban
khác nhau đảm nhiệm các công việc khác nhau như: môi giới, tự doanh,bảo lãnh
phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và ngay cả trong từng bộ phận các công
việc đều được phân công cụ thể, rõ ràng đến từng nhân viên.
Từ trình độ chuyên môn hóa cao độ dẫn đến phân cấp quản lý và làm
nảy sinh việc có quyền tự quyết. Các bộ phận trong Cty chứng khoán nhiều
khi không phụ thuộc lẫn nhau ( ví dụ bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh,
hay môi giới và bộ phận bảo lãnh phát hành ). Giữa các phòng ban có một sự
độc lập tương đối, mối liên kết không phải mật thiết, hữu cơ như trong các
doanh nghiệp sản xuất khác,. Chính vì vậy hoạt động hay cơ cấu của phòng
ban này không tác động nhiều đến phòng ban khác.
• Về nhân tố con người
Sản phẩm càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng. Chứng
khoán là một loại tài sản tài chính đặc biệt mà việc thẩm định chất lượng của
nó không phải giống như hàng hóa thông thường. Sự có mặt của môi giới trên
TTCK là cần thiết khi người đầu tư không biết được nhiều thông tin hay
không có khả năng phân tích thông tin một cách thích hợp để từ đó đánh giá
và quyết định hướng sử dụng vốn của mình.
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối với các Cty chứng khoán, với chức năng là tổ chức trung gian tài
chính thì khách hàng là mục tiêu số một, mục tiêu quan trọng nhất. Khách
hàng của Cty chứng khoán gồm các công ty phát hành chứng khoán, nhà đầu
tư chứng khoán. Như vậy, khách hàng của Cty chứng khoán cũng là chủ thể
tham gia trên TTCK có tư cách là người đại diện cho nguồn cung hoặc nguồn
cầu chứng khoán. Để có thể tồn tại và phát triển, Cty chứng khoán phải thực
hiện nguyên tắc “biết khách hàng của mình”, nắm rõ khả năng tài chính của
khách hàng, tư vấn cho khách hàng, giữ gìn đạo đức kinh doanh và tôn trọng
khách hàng, luôn luôn đặt khách hàng lên trên hết.
Làm được điều này, Cty chứng khoán phải dựa vào chất lượng chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý trong
công ty. Do đó, ở bất kỳ thời điểm nào Cty chứng khoán cũng thực sự chú
trọng đến nhân tố con người, thể hiện ở những điểm sau:
+ Thuê nhân viên phù hợp
+ Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
+ Có chế độ đãi ngộ và khuyến khích nhân viên
+ Có chính sách ưu đãi đối với nhân viên phù hợp với chiến lược quản lý
nhân lực
Có một điểm đặc biệt mà Cty chứng khoán khác với các công ty khác, đó
là trong công ty chứng khoán việc thăng tiến cất nhắc lên những vị trí cao hơn
là không quan trọng. Các chức vụ quản lý hay giám đốc trong công ty còn có
thể nhận được ít thù lao hơn so với một số nhân viên cấp dưới.
• Về ảnh hưởng của thị trường tài chính
Rõ ràng, Cty chứng khoán tham gia hoạt động trực tiếp trên TTCK thì
bất kỳ một biến động nào của TTCK nói riêng và thị trường tài chính nói
chung đều tác động sâu sắc đến chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và doanh thu
của Cty chứng khoán.
Thị trường tài chính, TTCK càng phát triển càng tạo ra nhiều công cụ tài
chính, có thêm nhiều dịch vụ, mở rộng phạm vi kinh doanh và quan đó một
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mặt tạo cơ hội thu lợi nhuận cho Cty chứng khoán, mặt khác buộc các Cty
chứng khoán phải cải tiến, sáng tạo không ngừng để thích nghi với môi
trường hoạt động.
Tùy thuộc vào mức độ phát triển, quy mô của thị trường, phương thức
kinh doanh của chủ sở hữu, khách hàng… cơ cấu tổ chức của các Cty chứng
khoán cũng khác nhau để đáp ứng những nhu cầu riêng, từ đơn giản đến phức
tạp. Nếu ở một số nước như Mỹ, Nhật Bản Cty chứng khoán có cơ cấu tổ
chức rất phức tạp thì ở các nước mới có TTCK như ở Đông Âu, Trung Quốc
cơ cấu tổ chức của các Cty chứng khoán lại đơn giản hơn nhiều.
• Về cơ cấu tổ chức của Cty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của Cty chứng khoán phụ thuộc vào quy mô kinh doanh
và các nghiệp vụ mà công ty được phép hoạt động. Mặt khác nó còn căn cứ
vào tính chất sở hữu của Cty chứng khoán.
Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một Cty chứng khoán chia
thành 2 khối chủ yếu: khối nghiệp vụ và khối phụ trợ.
- Khối nghiệp vụ: khối này thực hiện các giao dịch chứng khoán và tạo
ra phần lợi nhuận chủ yếu cho công ty. Tương ứng với các nghiệp vụ do khối
này đảm nhiệm sẽ có những phòng ban nhất định, gồm
+ Phòng môi giới
+ Phòng tự doanh
+ Phong bảo lãnh phát hành
+ Phòng quản lý danh mục đầu tư
+ Phòng tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán
+ Phòng ký quỹ
- Khối phụ trợ: khối này không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh mà có chức năng phụ trợ cho các nghiệp vụ này. Thông thường khối
này bao gồm các phòng:
+ Phòng nghiên cứu và phát triển
+ Phòng phân tích và thông tin thị trường
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Phòng kế hoạch công ty
+ Phòng phát triển sản phẩm mới
+ Phòng công nghệ tin học
+ Phòng pháp chế
+ Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
+ Phòng ngân quỹ
+ Phòng tổng hợp hành chính nhân sự
1.1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Khi xuất hiện Cty chứng khoán với tư cách là tổ chức trung gian tài
chính thì Cty chứng khoán đã góp phần làm cho kênh huy động vốn trung và
dài hạn trở nên thông suốt, dễ dàng hơn, san sẻ bớt gánh nặng cho hệ thống
ngân hàng thương mại.
Trên TTCK, Cty chứng khoán có 3 chức năng cơ bản sau:
- Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách làm cầu nối gặp gỡ giữa những
người có tiền nhàn rỗi với những người cần vốn.
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch
- Tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Xem xét tất cả các khía cạnh của Cty chứng khoán, từ đặc điểm đến chức
năng cho ta thấy được vai trò quan trọng không thể thiếu được của Cty chứng
khoán đối với sự tồn tại và phát triển của TTCK
• Vai trò đối với các tổ chức phát hành
Trên lý thuyết, khi doanh nghiệp cần huy động vốn bằng cách phát hành
chứng khoán, họ có thể tự chào bán khối lượng chứng khoán đến các nhà đầu
tư. Tuy nhiên, họ khó có thể làm tốt điều này bởi một lẽ họ không có bộ máy
chuyên nghiệp. Cần có những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho
họ. Mặt khác nguyên tắc trung gian của TTCK không cho phép nhà đầu tư và
nhà phát hành trực tiếp mua bán chứng khoán mà phải thông qua tổ chức
trung gian mua bán. Do vậy, các Cty chứng khoán với cơ cấu tổ chức thích
hợp, trình độ chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ thông qua hoạt động bảo lãnh
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát hành, đại lý phát hành giúp di chuyển dòng vốn từ nhà đầu tư đến tổ
chức phát hành.
• Vai trò đối với nhà đầu tư
Trên TTCK, giá cả các loại hàng hóa biến động thường xuyên. Trong khi
đó các nhà đầu tư không phải ai cũng có đủ điều kiện, khả năng nắm bắt hoặc
xử lý được các thông tin, diễn biến trên TTCK để xác định đúng giá trị các
chứng khoán đó.
Cty chứng khoán có đặc thù riêng. Cty chứng khoán trở thành nơi tập
hợp những nguồn thông tin đáng tin cậy nhất của thị trường, họ có trình độ và
kỹ thuật sàng lọc thông tin từ đó làm cơ sở cho tư vấn. Từ đó, thông qua các
nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư cac Cty chứng
khoán cung cấp một cơ chế giá cả giúp nhà đầu tư đưa ra được nhận định
đúng giá trị khoản đầu tư của mình cũng như giảm chi phí và thời gian giao
dịch.
Bên cạnh đó, với trình độ của một chuyên gia tài chính các Cty chứng
khoán giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách có hiệu quả.
Sự uy tín của các Cty chứng khoán làm khơi dậy niềm tin và quan trọng
hơn nữa là tạo ra nhu cầu đầu tư vào TTCK của công chúng.
• Vai trò đối với TTCK
- Thứ nhất, Cty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh chứng khoán
cho các tổ chức phát hành, Cty chứng khoán thông qua việc xác định và tư
vấn cho tổ chức phát hành mức giá chào bán hợp lý đối với các chứng khoán.
Thông thường mức giá phát hành do các Cty chứng khoán xác định trên cơ sở
tiếp xúc, tìm hiểu và thõa thuận với các nhà đầu tư tiềm năng lớn trong đợt
phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành.
Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu giá hay thị trường đấu lệnh,
Cty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng và chính
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xác về các khoản đầu tư của họ, bởi vì giá đó được xác định theo quy luật
cung cầu thị trường.
Như vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia
định giá của các Cty chứng khoán.
Ngoài ra, ở một số nước theo quy định của pháp luật các Cty chứng
khoán phải dành một tỉ lệ nhất định trong giao dịch của mình để mua vào khi
giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng. Hoạt động này đã
có tác dụng lớn trong việc điều tiết giá chứng khoán, bình ổn thị trường.
- Thứ hai, tạo tính thanh khoản cho các tài sản tài chính
Các Cty chứng khoán thực hiện cơ chế giao dịch chứng khoán trên cả thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Từ đó, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi
chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại một cách thuận tiện, nhanh chóng,
dễ dàng, ít tốn kém và ít thiệt hại nhất.
• Vai trò đối với cơ quan quản lý thị trường
Cty chứng khoán là thành viên hoạt động thường xuyên, liên tục trên
TTCK theo nguyên tắc công khai và trung gian. Với ưu thế nắm rõ tình hình
các tổ chức phát hành cũng như các nhà đầu tư thông qua vai trò bảo lãnh
phát hành, trung gian mua bán, Cty chứng khoán là nơi cung cấp tình hình về
các giao dịch, về các loại chứng khoán, về tổ chức phát hành, về nhà đầu tư,
về các biến động của thị trường một cách cập nhật, chính xác và tổng hợp
nhất. Dựa vào nguồn thông tin này, cơ quan quản lý thị trường có thể theo dõi
giám sát toàn cảnh hoạt động trên thị trường chứng khoán để từ đó đưa ra các
quyết định, chính sách đúng đắn, phù hợp, kịp thời đảm bảo cho thị trường
diễn ra một cách trật tự, khuôn khổ và có hiệu quả.
1.1.2. Các hoạt động của Công ty chứng khoán
1.1.2.1. Các hoạt động chính
Cty chứng khoán có thể thực hiện một hoặc một số hay tất cả các nghiệp
vụ trên TTCK hay không không chỉ phụ thuộc vào quy mô, năng lực của công
ty mà còn tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề.
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay, trên TTCK Cty chứng khoán đảm nhận các hoạt động cơ bản sau:
1.1.2.1.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động cơ bản đầu tiên của Cty chứng
khoán. Trong loại hình kinh doanh này, Cty chứng khoán đại diện cho khách
hàng thực hiện các lệnh mua, lệnh bán chứng khoán do khách hàng yêu cầu
để hưởng phí giao dịch. Ở đây, quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra
do đó khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình,
việc hạch toán các giao dịch phải được thực hiện trên các tài khoản thuộc sở
hữu của khách hàng và Cty chứng khoán chỉ được thu phí môi giới theo thỏa
thuận trong hợp đồng.
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 144/2003/NĐ – CP về chứng khoán và
thị trường chứng khoán thì “Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian
hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí”.
Hành nghề môi giới có thể ở tư cách pháp nhân hoặc thể nhân và dù ở tư
cách nào thì theo quy định chung cho nghề môi giới chứng khoán đều phải có
một số vốn nhất định (ở Việt Nam mức vốn pháp định cho loại hình kinh
doanh môi giới là 3 tỷ VNĐ).
Hoạt động môi giới không đơn thuần chỉ nhận lệnh mua bán cho khách
hàng, mà hơn thế, để góp phần nâng cao uy tín cho công ty, thu hút khách
hàng thì nhân viên môi giới phải thực hiện vai trò là người tư vấn đầu tư có
hiệu quả. Nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng cũng như đảm bảo tính ổn
định hiệu quả cho TTCK, pháp luật có những yêu cầu rất cao đối với nhà môi
giới. Người môi giới, trước hết phải được tín nhiệm, phải có lòng tin của
khách hàng. Tiếp đó họ phải có năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp, có khả
năng phân tích tài chính doanh nghiệp. Chẳng hạn tại Pháp, hành nghề môi
giới phải được Liên đoàn những người môi giới chấp nhận và là một chức
danh được Nhà nước công nhận.
Hoạt động môi giới vừa kết nối giữa những người bán và người mua mà
còn giới thiệu với khách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các nhà môi giới dù hoạt động trên thị trường tập trung hay thị trường OTC
đều phải đăng ký và được cấp giấy phép hành nghề.
Tính chất công việc đã tạo nên những đặc trưng riêng của nghề môi giới,
đó là:
- Áp lực công việc, tập trung cao độ, lao động cật lực bù lại thù lao xứng đáng
- Do đặc thù là sản phẩm tư vấn nên đòi hỏi hàm lượng kiến thức lớn
- Có khả năng giao tiếp và khả năng thuyết trình tốt
- Sản phẩm của môi giới là các dịch vụ tài chính đòi hỏi thường xuyên
phải đổi mới. Do vậy nhà môi giới phải không ngừng sáng tạo, tìm tào tạo ra
các sản phẩm mới
- Đối mặt với nhiều xung đột, nhà môi giới đứng giữa quyền lợi của
công ty và quyền lợi của khách hàng
- Nghề môi giới có tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Các nhà môi giới
luôn phải xây dựng cho mình những tiêu chuẩn đạo đức này và phải xây dựng
cho mình một hình ảnh đẹp về nghề môi giới
1.1.2.1.2. Hoạt động tự doanh
Theo Nghị định số 144/2003/NĐ –CP “ Tự doanh chứng khoán là việc
công ty chứng khoán mua và bán chứng khoán cho chính mình “
Song song với hoạt động môi giới, tự doanh chứng khoán cũng là một
hoạt động chủ yếu của Cty chứng khoán. Trên TTCK, Cty chứng khoán là
một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp không có lý do gì mà họ không tự đầu tư
cho chính mình. Với hoạt động này họ trở thành nhà đầu tư lớn – nhà đầu tư
có tổ chức, góp phần làm sôi động thị trường.
Tự doanh là kinh doanh cho chính mình và vì mục tiêu lợi nhuận nên
mức độ rủi ro lớn do đó muốn thực hiện hoạt động tự doanh Cty chứng khoán
phải có một số vốn đủ lớn, thường lớn hơn nhiều so với hoạt động môi giới.
Mặt khác để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường các Cty
chứng khoán còn phải tuân thủ những yêu cầu nhất định của pháp luật, trong
đó 2 yêu cầu cơ bản là vốn và con người. Chỉ khi Cty chứng khoán đáp ứng
Thái Thị Hương Trang Lớp TTCK 44
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét