LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đảng bộ tỉnh hòa bình lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 1991 đến 2001": http://123doc.vn/document/1054940-dang-bo-tinh-hoa-binh-lanh-dao-doi-moi-giao-duc-pho-thong-tu-nam-1991-den-2001.htm
các báo cáo tổng kết của Sở GD - ĐT Hòa Bình, ngời viết tìm hiểu quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với sự nghiệp đổi mới GD - ĐT nói
chung, GDPT nói riêng trên các mặt: đề ra chủ trơng, đờng lối, tổ chức thực
hiện, kết quả, trong giai đoạn (1991- 2001).
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình về GDPT từ năm 1991 đến 2001 (chủ trơng, đờng lối, biện
pháp thực hiện đổi mới GDPT).
- Đánh giá khách quan, khoa học về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
quá trình lãnh đạo đổi mới GDPT của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
- Rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
đối với sự nghiệp đổi mới GDPT trong giai đoạn (1991- 2001) góp phần phục
vụ cho việc đổi mới GDPT trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tợng nghiên cứu:
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về sự nghiệp đổi mới GDPT.
- Thực tiễn đổi mới GDPT của tỉnh thể hiện ở ba bậc: tiểu học, THCS, THPT.
- Những kinh nghiệm đợc rút ra từ thực tiễn trên.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về đổi mới
GDPT và kết quả thực hiện trong giai đoạn (1991- 2001).
* Về thời gian:
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về đổi mới
GDPT trong 10 năm đổi mới (từ năm 1991 đến năm 2001); từ thời điểm tại kỳ
họp thứ IX, Quốc hội khóa VIII quyết định tái lập tỉnh Hòa Bình (8 - 1991) đến
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIII tháng (1 - 2001).
5. Cơ sở lý luận, phơng pháp nghiên cứu và nguồn t liệu
5
* Cơ sở lý luận:
Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh, đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc về đổi mới GDPT. Đây
là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Hòa Bình
đối với GDPT (1991 - 2001).
* Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgíc và kết hợp
sử dụng một số phơng pháp khác nh: phơng pháp phân tích, tổng hợp; phơng
pháp thống kê, so sánh, điền dã để thực hiện đề tài.
* Nguồn t liệu:
Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ lịch sử, tác giả sử dụng nguồn t liệu
chủ yếu sau:
- Về kinh điển: tác giả chọn lựa các bài nói, bài viết của Các Mác, Ăng
ghen, Lênin và Hồ Chí Minh bàn về giáo dục.
- Các Văn kiện, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nớc;
của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Hòa Bình về GDPT.
- Một số bài phát biểu, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà n-
ớc, Bộ GD - ĐT; Tỉnh ủy, Sở GD - ĐT tỉnh Hòa Bình.
- Các văn bản, báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về GDPT.
- Các báo cáo của Sở GD - ĐT tỉnh Hòa Bình, Phòng Giáo dục các
Huyện, Thị xã trong tỉnh.
- Các công trình, bài viết của các chuyên gia nghiên cứu, các luận văn,
luận án về lĩnh vực GDPT đã đợc công bố.
- Các tài liệu, sách báo nớc ngoài của các tổ chức, học giả bàn về GD -
ĐT ở Châu á, Việt Nam trong những năm gần đây.
- Các bài báo, Tạp chí số ra hàng ngày, hàng tháng đợc đăng tải trên
các phơng tiện thông tin đại chúng
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
6
- Trình bày một cách hệ thống quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện đổi
mới GDPT của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn (1991 - 2001).
- Rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình trên.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa chất
lợng, hiệu quả GDPT của tỉnh trong thời gian tới, từng bớc đáp ứng tốt hơn
yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nớc nói chung, phát triển KT - XH của tỉnh Hòa Bình nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục;
nội dung chính của luận văn đợc chia thành 2 chơng 6 tiết.
7
Chơng 1
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục
phổ thông trong những năm 1991-1996
1.1. Một số nét về tỉnh hòa bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ
quốc, có vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên vùng
núi, điểm trung chuyển sức hút ảnh hởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của thủ đô Hà Nội.
Nằm trong giới hạn 20 19 - 21 08 vĩ bắc và 104 48 - 105 50 kinh
đông, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Tây, phía Tây giáp
tỉnh Sơn La, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà nam và Thanh Hóa, Hòa Bình
có diện tích tự nhiên 4.662,53 km . Phần lớn diện tích của tỉnh Hòa Bình là
đất lâm nghiệp chiếm 46,5%. Đất nông nghiệp chỉ chiếm 15,3% (trong đó đất
cấy lúa chỉ chiếm 5,9%), còn lại là núi đá vôi và đồi núi trọc.
Đợc thành lập từ ngày 22- 6 - 1886, khi chính quyền thực dân Pháp kí
Nghị định cắt vùng đất có nhiều đồng bào Mờng c trú thuộc các tỉnh Hng
Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh M-
ờng (tỉnh lỵ đặt tại Chợ Bờ). Tỉnh Mờng bao gồm 4 phủ: Vàng An, Lơng Sơn,
Lạc Sơn và chợ Bờ. Đến ngày 5 - 9 - 1896, tỉnh lỵ tỉnh Mờng đợc chuyển về
làng Vĩnh Diệu, xã Hòa Bình (phía tả ngạn sông Đà, đối diện xã Phơng Lâm).
Từ đó tỉnh Mờng đợc gọi là tỉnh Hòa Bình và địa giới của tỉnh về cơ bản đã đ-
ợc ổn định. Sau năm 1954, các châu đợc chuyển thành đơn vị hành chính cấp
huyện. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kì họp thứ 2, ngày 1 - 4 -
1976, hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây sát nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình và chính
thức đi vào hoạt động. Năm 1991, Quốc hội khóa VIII, kì họp thứ IX, đã
quyết định điều chỉnh lại địa giới và chia cắt tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh
Hà Tây và Hòa Bình.
8
Hiện nay, tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và 1 thị xã, bao gồm 195 xã, 8
phờng và 11 thị trấn. Tỉnh lỵ Hòa Bình, nay là thị xã Hòa Bình, cách Hà Nội
76 km về phía Tây. Đờng quốc lộ 6 đi qua Hòa Bình dài 125 km, nối liền Hà
Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thợng Lào. Các tuyến đờng 12, 15, 21
đã nối liền Hòa Bình với các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và Hà Nam. Theo kết
quả tổng điều tra dân số năm 2002, tỉnh Hòa Bình có 776,8 nghìn ngời. Hòa
Bình là địa bàn c trú của nhiều dân tộc anh em, trong đó có 6 dân tộc chính. Dân
tộc Mờng đông nhất: Chiếm 62,98%, dân tộc Kinh: 27,84%; dân tộc Thái:
4,45%; dân tộc Tày: 2,63%; dân tộc Dao: 1,50%; dân tộc HMông: 0,45%.
Địa hình Hòa Bình bị chia cắt phức tạp, có độ dốc lớn. Vùng núi cao
hiểm trở nằm ở phía Tây Bắc với độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt nớc
biển, với độ dốc 30 - 35 , có nơi dốc trên 40 . Phía Đông Nam là vùng núi
thấp với độ cao trung bình 100 - 200m và độ dốc 20 - 25 . Trên dải cao
nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ (Lai Châu) đến bờ biển Ninh Bình,
hoạt động cacxtơ hóa đã tạo ra bồn địa giữa núi có điều kiện c trú thuận lợi
(địa hình thấp, khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có nguồn nớc ) hình thành
lên các xứ Mờng trù phú sinh sống.
Khí hậu ở Hòa Bình có đặc điểm nổi bật là nóng ẩm và ma nhiều theo
mùa và hay có thiên tai, ma lũ, bão tố, gió lốc, hạn hán Nhiệt độ trung bình
từ 22,9 C - 25 C; những tháng nhiệt độ cao th ờng vào tháng 6, tháng 7, tháng
8 nhiệt độ trên dới 30 C; l ợng ma hàng năm từ 1500mm - 2500mm và độ ẩm
trung bình hàng năm 80% - 85% [89, tr.8].
Hòa Bình có hai con sông chính: Sông Đà bắt nguồn từ Trung Quốc
chảy qua các tỉnh Tây Bắc - Việt Nam ra Việt Trì nhập vào sông Hồng, có
chiều dài chảy qua Hòa Bình 151km. Sông Bôi, bắt nguồn từ Kỳ Sơn, chảy
qua huyện Kim Bôi, Lạc Thủy ra Nho Quan (Ninh Bình), có chiều dài qua
Hòa Bình 66km. Ngoài ra còn có các sông Bởi, sông Bùi, sông Lạng Hồ lớn
nhất của tỉnh Hòa Bình là hồ sông Đà với diện tích mặt nớc trên 9000ha và
9
dung tích 9,5 tỉ m . Đây không chỉ là công trình thủy điện lớn nhất cả n ớc với
tổng công xuất 1920Mw và lợng thủy năng 50 tỷ kw/h mà còn là công trình
thủy lợi cung cấp nguồn nớc phục vụ sản xuất sinh hoạt, nuôi trồng thủy hải
sản của tỉnh cũng nh tạo ra khu du lịch lòng hồ đầy triển vọng.
Thiên nhiên đã tạo ra cho Hòa Bình nhiều cảnh quan đẹp và kỳ thú nh:
núi Cột Cờ (huyện Tân Lạc) hang Can (huyện Kỳ Sơn) hang Trại (huyện Lạc
Sơn) hang Đồng Nội (huyện Lạc Thủy) các khu du lịch Vua Bà, Chợ Bờ, suối
nớc khoáng Mớ Bà (huyện Kim Bôi) Nhờ bàn tay lao động cần cù và sáng
tạo của mình, nhân dân các dân tộc ở đây đã tạo nên nền văn hóa Hòa Bình
nổi tiếng với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (bản Lác - Mai Châu),
của dân tộc Mờng (bản Đốm - thị xã Hòa Bình), cùng với trang phục thổ cẩm
đầy màu sắc, đặc sản rợu cần của địa phơng đã mang đến cho Hòa Bình
những điểm du lịch vừa là nơi điều dỡng có giá trị văn hóa cao.
Với đặc điểm của điều kiện tự nhiên nh trên, đã tác động rất lớn đến
chiến lợc phát triển GD - ĐT của Hòa Bình. Bởi lẽ, bên cạnh những thuận lợi,
là một tỉnh Miền Núi, Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với
những vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng lòng
hồ. Nơi đây, điều kiện KT - XH cho con em theo học còn hạn chế, giao thông
đi lại còn khó khăn Đây là vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh, cần có sự
quan tâm chỉ đạo và sự phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành, từng bớc đa
giáo dục Hòa Bình vợt qua những khó khăn khắc nhiệt của tự nhiên.
Quán triệt tinh thần đổi mới toàn diện đất nớc theo quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn tình hình phát triển KT - XH của
địa phơng. Trong các văn kiện, Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình khóa XI (1992), khóa XII (1996) và khóa XIII (2001), chủ yếu đa ra
những mục tiêu trọng tâm là: ổn định và đẩy mạnh phát triển KT - XH, giải
phóng năng lực sản xuất; từng bớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
CNH, HĐH, bằng việc phát triển mạnh mẽ tiểu thủ công nghiệp, xây dựng -
10
công nghiệp và phát triển thơng mại, du lịch, dịch vụ; tăng trởng kinh tế gắn
với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng,
từng bớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Thực hiện mục tiêu, chiến lợc do các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình đề ra, giai đoạn 1991 - 2001, tình hình phát triển KT - XH ở Hòa
Bình có bớc chuyển biến rõ nét. Tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân hàng
năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 7,8% và đạt 7,9% thời kỳ 1996 - 2001. GDP thu
nhập bình quân đầu ngời năm 1991 đạt 738 nghìn đồng, năm 1995 đạt 1,518
triệu đồng, năm 2000 là 2,3827 triệu đồng [89, tr.424].
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hòa Bình đã và đang diễn ra theo
hớng giảm dần tỉ trọng của nông - lâm - ng nghiệp, tăng dần tỉ trọng của xây
dựng và dịch vụ. Tiến trình này phù hợp với xu thế chung của chuyển dịch cơ
cấu kinh tế đất nớc trong thời kỳ đổi mới cũng nh trong toàn bộ quá trình
CNH, HĐH, đợc thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.1: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế [89, tr.427].
Năm 1991 Năm 2000
Bên cạnh đó, số hộ đói, nghèo từ 36,6% năm 1996 đã giảm còn 14,4%
năm 2000. 100% số xã, phờng, thị trấn trong toàn tỉnh có điện lới quốc gia
[89, tr.429]. Điều này có nghĩa là việc thực hiện quan điểm công bằng trong
giáo dục của Đảng bộ tỉnh Hòa bình ngày càng có điều kiện đợc quán triệt sâu
rộng.
11
Ngành giáo dục cũng góp phần đào tạo cho tỉnh một đội ngũ cán bộ có
trình độ khoa học kỹ thuật khá cao. Tính đến ngày 1- 4 - 1999, tổng số cán bộ
khoa học kỹ thuật làm việc trong các ngành kinh tế Hòa Bình là 10.929 ngời.
Trong đó, trình độ cao đẳng có 5570 ngời, đại học có 5296 ngời, thạc sỹ có 52
ngời, tiến sỹ có 11 ngời. Ngoài ra còn có đội ngũ công nhân đông đảo đó là
lực lợng lao động rất quý.
Mạng lới y tế phát triển đến tận xã, phờng. Đến năm 2000, toàn tỉnh có
gần 2000 giờng bệnh và 2156 cán bộ y tế với trên 400 bác sỹ; hàng chục đề
tài khoa học trực tiếp phục vụ phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao cũng đợc tổ chức
rộng rãi và thờng xuyên hơn; phong trào xây dựng nếp sống văn minh, đời
sống văn hóa mới trong cới xin, tang lễ, tôn giáo, tín ngỡng đợc đổi mới theo
hớng gọn nhẹ, tiết kiệm và đúng pháp luật. Các phơng tiện thông tin đại
chúng, nhất là Phát thanh truyền hình, báo chí từng bớc đợc nâng cấp, đa
100% số hộ đợc nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và 60% số hộ đợc xem truyền
hình vào năm 2000 [89, tr.430].
Bên cạnh những chuyển biến to lớn, tích cực nói trên, song sự phát triển
về KT - XH của tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn này cũng bộc lộ không ít
những hạn chế, khó khăn. Quy mô tăng trởng và quy mô tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) còn nhỏ bé so với quy mô tăng trởng nền kinh tế của cả nớc. Năm
1995, GDP của tỉnh mới đạt 1.098,6 tỉ đồng và năm 2000 đạt gần 1.830,79 tỉ
đồng (tính theo giá thực tế) [89, tr.424]. Thu nhập bình quân đầu ngời còn
thấp; năm 2002 đạt 2,7 triệu đồng (bằng 40,5% so với mức bình quân chung
của cả nớc là 6,7 triệu đồng) [89, tr.430 - 431]. Nền kinh tế chủ yếu vẫn dựa
vào nông - lâm nghiệp, chiếm tới gần 50% tổng GDP toàn tỉnh; công nghiệp
và xây dựng mới chỉ chiếm 17,13% trong cơ cấu GDP (thấp hơn nhiều so với
tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong tổng GDP của cả nớc là 36,73%) [89,
tr.427]. Một số nơi vùng sâu, vùng xa, vùng lòng hồ, cơ cấu kinh tế truyền
thống vẫn còn đậm nét; giao thông đi lại, thông tin liên lạc còn gặp nhiều khó
12
khăn. Trình độ dân trí, văn hóa, giáo dục còn nhiều bất cập, phần đông các hộ
gia đình ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng lòng hồ trình độ học vấn còn
thấp, trong đó có không ít phụ nữ và thanh niên. Một số cộng đồng dân c, các
hủ tục, tập quán lạc hậu nh ma chay, cới xin, lễ tết vẫn còn khá nặng nề, gây
ảnh hởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống.
Từ thực trạng phát triển KT - XH của Hòa Bình nh trên. Có thể nói, so
với mặt bằng chung của cả nớc, Hòa Bình vẫn là một tỉnh Miền Núi còn
nghèo, những khó khăn về điều kiện tự nhiên, về phát triển KT - XH rõ ràng
ảnh hởng rất lớn đến chiến lợc phát triển GD - ĐT trên địa bàn tỉnh, nhất là
những nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Do vậy, phát triển kinh tế
gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
GD - ĐT là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành công của sự
nghiệp CNH, HĐH mà Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã đề ra.
1.1.2. Truyền thống văn hóa
Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình có niềm tự hào là quê hơng của
một nền văn hóa, đánh dấu bớc ngoặt quan trọng trong tiến trình hình thành,
phát triển của loài ngời nói chung và con ngời Việt Nam nói riêng. Đó là nền
văn hóa Hòa Bình, nền văn hóa của dân c nông nghiệp sơ khai cách đây hàng
vạn năm và đợc đại hội lần thứ nhất các nhà tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội
vào tháng giêng năm 1932 thừa nhận.
Văn hóa Hòa Bình có niên đại C14 sớm nhất từ 16.470 80 năm đến
18.420 150 năm tr ớc Công nguyên và tồn tại đến khoảng 7.500 năm trớc
Công nguyên. Trong đó, tuyệt đại đa số các di tích Hòa Bình có niên đại trong
khung 12.000 năm đến 7.500 năm trớc Công nguyên.
Dựa trên căn cứ các di chỉ khảo cổ Hòa Bình là những minh chứng lịch
sử để khẳng định điều đó nh di chỉ: hang Bng (Đà Bắc), hang Tùng, hang làng
Gạo (Kim Bôi), hang Đồng Nội (Lạc Thủy) hang Trại (Lạc Sơn) Đặc biệt di
chỉ hang Bng là một trong những di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình. Bằng
13
phơng pháp phân tích bào tử phấn hoa, đã tìm ra phấn hoa thuộc họ rau đậu,
đã chứng tỏ những c dân ở đây là chủ nhân mảnh đất này đã thực hiện một b-
ớc nhảy vọt lớn lao trong đời sống nhân loại: từ săn bắn, hái lợm đã tiến lên
trồng rau củ và đã tiến một bớc dài hơn là biết trồng cấy lúa. Nh vậy, có thể
nói dân c Hòa Bình là một trong những dân c đầu tiên phát minh ra nông
nghiệp trồng trọt và Việt Nam - Hòa Bình là một trong những trung tâm phát
minh nông nghiệp sớm nhất thế giới.
Đến nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã phát hiện đợc nhiều trống đồng
cổ, chủ yếu là hai loại: Loại I Hêgơ (thờng gọi là trống Đông Sơn), loại II
Hêgơ (còn gọi là trống Mờng). Chiếc trống sông Đà là một trong những chiếc
trống đẹp nhất thế giới (có niên đại khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ IV trớc Công
nguyên). Ngoài ra, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy những công cụ bằng
đồng nh: rìu lỡi xéo, lỡi giáo, thuổng, dao cắt, thạp Đây là những minh
chứng khẳng định dân tộc Mờng chính là ngời Việt cổ.
Tự hào là mảnh đất có chiều dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong
tỉnh cũng tạo cho mình một sắc thái đặc sắc riêng. Đồng bào Mờng có lễ hội
Cồng Chiêng, có trờng ca đẻ đất, đẻ nớc Đồng bào Thái có chữ viết riêng
từ lâu đời với trờng ca sống trụ sôn sao Tiếng sáo cùng những làn điệu
dân ca HMông say đắm đã tạo ra sự phong phú đa dạng về văn hóa của một
tỉnh nhiều dân tộc, góp phần vào sự phong phú đa dạng của nền văn hóa Việt
Nam.
Trong lịch sử phát triển của mình, Hòa Bình có bề dày văn hóa, nhng
do nhiều nguyên nhân, nền giáo dục Hòa Bình phát triển rất chậm. Qua hàng
ngàn năm sống trong điều kiện kinh tế chậm phát triển, mang tính tự cấp, tự
túc, lại bị chế độ lang đạo, thực dân thống trị cực kỳ tàn bạo, lạc hậu và bảo
thủ đã kìm hãm trình độ dân trí của dân nhân các dân tộc trong tỉnh. Điều
này đã khiến Công sứ Hòa Bình Rênhiê (Regnier) xem đó nh một sai lầm cần
phải sửa chữa [89, tr.237, 264].
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét