Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

giải pháp đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường hoa kỳ


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường hoa kỳ": http://123doc.vn/document/1051531-giai-phap-day-manh-kinh-doanh-xuat-khau-thuy-san-sang-thi-truong-hoa-ky.htm


Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
hàm những yếu tố hết sức phức tạp khác hẳn với kinh doanh trong nớc. Hoạt
động kinh doanh xuất khẩu đòi hỏi phải kinh doanh trên thị trờng ngoài nớc
do đó những vấn đề về thị trờng, khách hàng, luật pháp, thanh toán rất đa
dạng và phong phú nhng cũng không kém phần phức tạp và rất khó để kiểm
soát.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu đợc tổ chc thực hiện với nhiều nghiệp
vụ phức tạp từ khâu ngiên cứu thị trờng ngoài nớc ,lựa chọn hàng hoá xuất
khẩu , lựa chọn đối tác kinh doanh , đàm phán kí kết hợp đồng- tổ chức
thực hiện hợp đồng cho đến giao hàng và hoàn thành các quá trình thanh toán.
Tất cả các quá trình này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong khi thực
hiện chúng sẽ tạo ra không ít những cơ hội nhng cũng không ít khó khăn cho
các doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp ít kinh nghiệm trong buôn
bán quốc tế.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có thể đợc chia ra làm những nội dung
cơ bản nh sau:
1 Xây dựng chiến lợc kinh doanh xuất khẩu
Trong bối cạnh cạnh tranh gay gắt và môi trờng kinh doanh rất nhiều
biến động các doanh nghiệp muốn hoạt động một cách ổn định và có hiệu quả
thì không thể không xây dựng chiến lợc kinh doanh cho mình trong từng giai
đoạn cụ thể. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì xây dựng
chiến lợc lại càng có ý nghĩa quan trọng vì đây là các doanh nghiệp kinh
doanh trên thị trờng quốc tế nên sự đòi hỏi về ổn định là rất cao để tránh
những rủi ro không đáng có trong kinh doanh. Để xây dựng chiến lợc kinh
doanh có thể sử dụng nhiều phơng pháp nhng là sử dụng biện pháp nàp đi
chăng nữa thì cũng phải dựa trên những thông tin về nhu cầu của thị trờng và
khả năng đáp ững của doanh nghiệp. Nừu không sẽ dễ dẫn tới những chiến lợc
sai lầm nghiêm trọng.
2. Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế.
Thị trờng là một phạm trù khách quan đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi kinh
doanh phải tuân theo những quy luật khách quan của nó. Thị trờng gắn liền
với quá trình sản xuất và lu thông. Thị trờng có thể đợc hiểu theo nhiều cách
khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận.
Để nắm vững thị trờng , hiểu biết các quy luật của thị trờng nhất thiết
đòi hỏi các nhà kinh doanh phải thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trờng .
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trong kinh doanh thơng mại quốc
tế thông qua việc trả lời cho nhà xuất khẩu các câu hỏi về lựa chọn thị trờng
chiến lợc, mặt hàng chiến lợc, đối tác và đối thủ trong kinh doanh .
Chính vì vậy công tác nghiên cứu thị trờng là một công đoạn rất quan
trọng không thể thiếu đối với nhà kinh doanh xuất khẩu , do đó công tác
nghiên cứu thị trờng cần đợc tiến hành một cách có kế hoạch và thống nhất.
Nguyễn Văn Dũng
5
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
Nghiên cứu dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng.
Thị trờng lợng thị trờng hay còn gọi là quy mô thị trờng đợc quy định bởi
khối lợng hàng hoá tham gia giao dịch tại thị trờng đó trong một khoảng thời
gian nhất định(thờng là một năm). nghiên cứu dung lợng thị trờng nhằm xác
định nhu cầu thật của khách hàng về loại hàng hoá mà mình định kinh doanh.
Cùng với việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng thì một vấn đề nữa cũng cần
đợc nghiên cứu đó là khả năng cung cấp của thị trờng bao gồm việc xem xét
các đặc điểm, tính chất, khả năng cung ứng hàng hoá thay thế và các nguồn
cung cấp hàng hoá đó cho thị trờng đang nghiên cứu.
Một vấn đề nữa cũng nên đợc xem xét đó là tính chất thời vụ của hàng
hoá kinh doanh , tập quán tiêu dùng để từ đó đa ra các kế hoạch và chiến lợc
kinh doanh cho phù hợp với từng giai đoạn,thời kì khác nhau.
Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu.
Trên cơ sở kết quả phân tích và đánh giá thị trờng nhà xuất khẩu cần lựa
chọn hàng xuất khẩu chủ đạo nhằm chiếm lĩnh thị trờng và phát huy lợi thế
sẵn có từ những mặt hàng đó.
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chủ đạo có ý nghĩa rất quan trọng đối
với việc kinh doanh xuất khẩu thành công hay thất bại của nhà xuất khẩu.
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu phải dựa vào nhu cầu của thị trờng , mẫu
mã chủng loại giá cả, thị hiếu tất cả những yếu tố đó vẫn cha phải là yếu tố
quyết định bởi vì với những doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất khẩu thì
yếu tố tỷ giá ngoại tệ xuất khẩu đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Chính vì
vậy việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu phải đợc cân nhác kỹ lỡng và ngoài
những yếu tố tính toán chính xác thì kinh nghiệm của nhà xuất khẩu cũng là
một yếu tố không thể thiếu trong việc lựa chọn mặt hàng.
Lựa chọn đối tác kinh doanh .
Không một doanh nghiệp nào khi tham gia vào thơng mại quốc tế lại
không có bạn hàng. Mỗi doanh nghiệp khi thâm nhập thị trờng ngoài nớc nếu
không có các đối tác nội địa của nớc đó thì sẽ phải tốn một khoản kinh phí
không nhỏ để thiết lập kênh phân phối sản phẩm của mình nhất là khi cha có
những hiểu biết cần thiết về thị trờng đó.
Chính vì vậy việc lựa chọn một đối tác có đủ khả năng và uy tín trong
kinh doanh là một nhiệm vụ của nhà xuất khẩu khi tiến hành kinh doanh xuất
khẩu. Việc lựa chọn đối tác kinh doanh có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác
nhau nh tình hình kinh doanh của đối tác, khả năng về cơ sở vật chất và tài
chính của đối tác, đặc điểm kinh doanh của đối tác và uy tín trong kinh doanh
của đối tác.
Ngày nay một vấn đề hết sức quan trọng khi quyết định lựa chọn của các
doanh nghiệp xuất khẩu đó là t cách pháp nhân của đối tác. Rất nhiều vụ tranh
chấp thơng mại xảy ra và ngời bị thiệt hại là các công ty kinh doanh xuất khẩu
Nguyễn Văn Dũng
6
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
của Việt Nam chỉ vì khi lựa chọn đối tác kinh doanh đã không chú ý đến t
cách pháp nhân của đối tác.
Rõ ràng công tác nghiên cứu thị trờng là một khâu không thể thiếu trong
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp , làm tốt công tác này là điều kiện cần
thiết để đảm bảo cho doanh nghiệp đa ra các kế hoạch và chiến lợc kinh doanh
phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.
3.Nghiên cứu giá cả hàng hoá xuất khẩu .
Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá và nó cũng là một nhân
tố quan trọng trong chiến lợc cạnh tranh của các doanh nghiệp. Việc nghiên
cứu để đa ra một mức giá phù hợp là một vấn đề không hề đơn giản nếu nh
doanh nghiệp muốn sử dụng nó là một công cụ để cạnh tranh với các đối thủ
cạnh tranh khác.
Giá cả nói chung và giá cả quốc tế nói riêng chịu tác động của nhiều
nhân tố khác nhau cho nên giá cả luôn biến động. Trong buôn bán quốc tế giá
cả thị trờng lại càng có ý nghĩa quan trọng bởi vì trong hoạt động thơng mại
quốc tế hàng hoá phải qua những nớc khác nhau trong một thời gian dài và
phải chịu những chính sách thuế khác nhau của các nớc nhập khẩu. Do đó để
đạt đợc hiệu quả trong kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải nắm rõ giá
cả và xu hớng vận động của giá cả, có nh vậy doanh nghiệp mới thực sự chủ
động trong kinh doanh. Hiểu rõ giá cả và xu hớng biến động của giá cả sẽ
giúp cho doanh nghiệp vạch ra các chiến lợc kinh doanh cụ thể và có các biện
pháp khoa học trong tính toán giá cả sẽ là một đòn bẩy thực sự trong buôn bán
quốc tế.
Chính vì vai trò quan trọng của mình nên thơng mại quốc tế đòi hỏi các
nhà xuất khẩu phải nghiên cứu một cách kỹ lỡng vấn đề giá cả quốc tế.
Giá cả của hàng hoá trong buôn bán quốc tế là mức giá tổng hợp bao
gồm giá vốn của hàng hoá và các chi phí liên quan đến qúa trình mua bán
hàng hoá nh bảo hiểm, chi phí vận tải, bao bì, đóng gói
Giá quốc tế là mức giá đại diện cho những hàng hoá nhất định trên thị tr-
ờng. Đó phải mức giá của những giao dịch thơng mại thông thờng trên thị tr-
ờng quốc tế và không kèm theo một điều kiện thơng mại đặc biệt nào. Trên
thực tế rất khó dự đoán chính xác giá cả trong tơng lai bởi vì có rất nhiều nhân
tố ảnh hởng đến mức giá quốc tế. Việc dự đoán giá phải dựa trên cơ sở kết quả
phân tích tình hình thị trờng của hàng hoá đó cũng nh các yếu tố ảnh hởng đến
xu hớng biến động của mức giá cả của hàng hoá đó. Có rất nhiều nhân tố có
ảnh hởng đến giá cả của hàng hoá nh: Chu kì sản xuất kinh doanh , nhân tố
cung cầu, lạm phát, cạnh tranh, các chính sách quản lí của nớc nhập khẩu
cũng nh nớc xuất khẩu
4.Thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu.
Thanh toán là một khâu khá quan trọng và cũng không kém phần phức
tạp trong kinh doanh xuất khẩu. Việc lựa chọn đồng tiền thanh toán, thời
Nguyễn Văn Dũng
7
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
điểm thanh toán, phơng thức thanh toán và các điều kiện thanh toán đóng vai
trò rất quan trọng đối với hiệu quả của quá trình kinh doanh xuất khẩu. Việc
xem xét các nhân tố có thể ảnh hởng đến biến động tỷ giá hối đoái của đồng
tiền thanh toán một cách thiếu thận trọng có thể gây ra nh cầu tổ thất rất nặng
nề cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Hiện nay trong thơng mại quốc tế đang tồn tại khá nhiều phơng thức
thanh toán , việc lựa chọn phơng thức trả tiền nào có lợi nhất cho nhà xuất
khẩu cũng cần đợc nghiên cứu kỹ lỡng tránh bị thiệt hại do lựa chọn phơng
thức thanh toán không đúng. Đói với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì
việc áp dụng phơng thức thanh toán bằng th tín dụng(L/C) hay phơng thức nhờ
thu hoặc phơng thức trả trớc có thể coi là tơng đối an toàn.
Tóm lại thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp
cần phải quantâm đến các yếu tố nh:
- Tỷ giá hối đoái.
- Tiền tệ trong thanh toán.
- Thời hạn thanh toán.
- Các phơng thức thanh toán và điều kiện thanh toán.
- Các điều kiện bảo đảm trong thanh toán khác.
Nhằm tránh gặp rủi do trong khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh
xuất khẩu .
III.Chiến lợc kinh doanh hàng xuất khẩu của các doanh
nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay kinh doanh xuất khẩu không chỉ đơn thuần do các doanh
nghiệp chuyên kinh doanh về xuất khẩu đảm nhiệm mà ngay ban thân các
doanh nghiệp sản xát cũng đứng ra kinh doanh xuất khẩu. Điều đó đợc thể
hiện ở việc càng ngày càng có nhiều các doanh nghiệp sản xuất lập các trang
Website riêng để giới thiệu hàng hoá của mình với các đối tác nớc ngoài và tự
đóng hàng để xuất khẩu trực tiếp không phải thông qua cc công ty chuyên
kinh doanh xuất nhập khẩu. Đây là một chính sách rất đúng đắn của Nhà nớc
nhằm khuyến khích mọi doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hoá. Nhng để
kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả thì các doanh nghiệp cần phải có những
chiến lợc kinh doanh đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế của thị trờng.
Hiện nay chiến lợc kinh doanh hàng xuất khẩu bao gồm những nội dung
chủ yếu sau:
Chiến l ợc sản phẩm.
Bất kì một doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nào cũng đều có những
mặt hàng kinh doanh cụ thể, để đạt đợc hiệu qủa trong kinh doanh bất kì một
doanh nghiệp nào cũng đều phải chú trọng vào mặt hàng mà mình đang kinh
doanh. Chiến lợc sản phẩm là một kiểu chiến lợc tập trung nguồn lực cho sản
Nguyễn Văn Dũng
8
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh hoặc có dự định sản xuất
kinh doanh trong tơng lai. Những vấn đề chính của chiến lợc sản phẩm bao
gồm:
* Nhãn hiệu hàng hoá.
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn định vị (Định vị sản phẩm là quá
trình tạo ra những ấn tợng tốt về sản phẩm của doanh nghiệp đối với ngời tiêu
dùng) sản phẩm của mình trên thị trờng thì đều phải có nhãn hiệu của hàng
hoá đó. Nhãn hiệu hàng hoá là biểu tợng riêng cho doanh nghiệp về uy tín
cũng nh chất lợng của hàng hoá mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Việc lựa
chọn nhãn hiệu và quảng bá nhãn hiệu hàng hoá ngày nay đã trở nên hết sức
quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh nói chung và các doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu nói riêng.
* Bao bì, mẫu mã và các dịch vụ đi kèm.
Bao bì và mẫu mã của hàng hoá là những cái tạo ra ấn tợng đầu tiên đối
với ngời tiêu dùng về một loại hàng hoá nhất định. Ngoài ra nó cũng chính là
một công cụ uảng cáo rất hiệu quả cho sản phẩm cũng nh cho doanh nghiệp.
Chính vì vậy việc chú ý đến vấn đề mẫu mã và bao bì của sản phẩm từ lâu đã
trở thành một khâu quan trọng của các doanh nghiệp ở các nớc phát triển. Mặc
dù vậy bao bì và mẫu mã hàng hoá nh thế nào để thu hút khách hàng lại là
một vấn đề không hề đơn giản đòi hỏi doanh nghiệp mất nhiều chi phí.
* Chủng loại hàng hoá và danh mục hàng hoá.
Việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh cungx nh danh mục mặt hàng kinh
doanh có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu.
Việc lựa chọn sai lầm mặt hàng kinh doanh xuất khẩu có thể đa doanh nghiệp
đến bên bờ vực phá sản trng điều kiện cạnh trnah gay gắt nh hiện nay. Việc
lựa chọn kinh doanh mặt hàng nào không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của
doanh nghiệp mà nó phị thuộc vào nhu cầu của thị trờng. Để lựa chọn đúng
mặt hàng mà doanh nghiệp có thể kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao nhất
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải làm tốt khâu nghiên cứu thị trờng .
* Chu kỳ sống của sản phẩm.
Chu kì sống của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của thị trờng.
Những mặt hàng mà nhu cầu thờng có xu hớng biến động càng nhanh thì chu
kì sống của sản phẩm đó càng ngắn. Việc nắm bắt đợc chu kì sống của sản
phẩm sẽ có vai trò rất to lớn trong sự thành công của mỗi doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu. Doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng thành công khi kinh
doanh những mặt hàng còn trong giai đoạn phát triển. Mỗi sản phẩm đều phải
trải qua bốn thời kỳ phát triển đó là :
- Giai đoạn1: Là giai đoạn hàng hoá mới đợc tung ra thị trờng và cha đợc
ngời tiêu dùng biết tới.
Nguyễn Văn Dũng
9
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
- Giai đoạn 2: : Là giai đoạn phát triển của sản phẩm . Trong giai đạon
này ngời tiêu dùng đã quen với sản phẩm và đợc tiêu dùng rộng rãi.
- Giai đoạn3: : Là giai đoạn bão hoà của sản phẩm. Trongn giai đoạn
nàydoanh thu tăng chậm và có xu hớng giảm.
- Giai đoạn 3: : Là giai đoạn suy thoái. Giai đoạn này hàng hóa đó không
còn đợc thị trờng a chuộng, doanh thu giảm nhanh chóng. Hàng hoá ở giai
đoạn này thì doanh nghiệp nên rút khỏi thị trờng hoặc chuyển mặt hàng kinh
doanh .
Ngoài những nội dung trên việc tạo ra uy tín cũng là một vấn đề rất quan
trọng trong chiến lợc sản phẩm mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu
không đợc bỏ qua nếu muốn kinh doanh lâu dài.


Nguyễn Văn Dũng
10
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
ch ơng ii:
sự cần thiết phải đẩy mạnh kinh doanh
xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng Hoa Kì .
I. căn cứ lý thuyết về thơng mại quốc tế.
Nh chúng ta biết rằng mỗi một hoạt động kinh tế bất kỳ đều đợc chỉ lối
bằng một lý thuyết kinh tế nhất định. Thơng mại quốc tế đã xuất hiện từ rất
lâu trong lịch sử loài ngời. Nó không những chỉ có trong một nền kinh tế hiện
đại mà còn có ngay cả từ rất xa xa trong các hình thaí kt xã hội khác nhau nh
xã hội nô lệ hay xã hội phong kiến. Thơng mại quốc tế xuất hiện cùng với sự
xuất hiện của chuyên môn hóa lao động nhng nó chỉ thực sự phát triển mạnh
mẽ khi chủ nghĩa t bản ra đời với tính chất chuyên môn hoá sâu sắc của sản
xuất và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật.
Thơng mại quốc tế là sự mua bán trao đổi hàng hoá , dịch vụ giữa các n-
ớc. Sự trao đổi hàng hóa là một hình thứccủa mối quan hệ xã hội, phản ánh
mối quan hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất khác nhau ở các nớc khác nhau.
Thơng mại quốc tế cho phép một quốc gia có thể mở rộng khả năng tiêu
dùng cũng nh mở rộng khả năng sản xuất. Cho phép mỗi quốc gia phát huy tốt
hơn khả năng của mình trong sản xuất và phát triển kinh tế .
Tiền đề của thơng mại quốc tế là chuyên môn hoá trong sản xuất. Không
một quốc gia nào có đủ khả năng và nguồn lực để sản xuất có hiệu quả mọi
hang hoá , dịch vụ. Chính vì vậy chuyên môn hoá vào sản xuất những hàng
hoá mà nớc mình có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá mà nớc mình kém
lợi thế sẽ phát huy hiệu quả kinh tế cao hơn cố gắng sản xuất những mặt hàng
đó. Và ngời đầu tiên chứng minh đợc điều này bằng lý thuyết kinh tế là nhà
kinh tế học Adam Smith. Ông đã đa ra lý thuyết Lợi thế tuyệt đối với nội dung
chủ yếu nh sau : Mỗi quốc gia đều có những lợi thế tuyệt đối trong việc sản
xuất ra một số sản phẩm với chi phí thấp tuyệt đối nhờ nguồn lợi của tự nhiên,
tài nguyên, nghành nghề truyền thống, lao động
Khi một nớc có lợi thế tuyệt đối so với các nớc khác về sản xuất một loại
hàng hoá nào đó thì có thể tiến hành chuyên môn hoá vào sản xuất hàng hoá
đó nhằm trao đổi lấy các hàng hoá khác mà nớc mình kém lợi thế.
Nh chúng ta biết rằng thơng mại quốc tế không chỉ dựa trên cơ sở những
lợi thế tuyệt đối sẵn có. Không phải khi nào thơng mại quốc tế cũng dựa trên
nền tảng của những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nguồn nhân công
rẻ. Nhật bản là một ví dụ về điều đó bởi nớc này không hề có lợi thế về tài
nguyên thiên nhiên cũng nh chi phí nhân công không hề rẻ nhng tại sao hàn
hoá của nớc này vẫn xuất khẩu sang các nớc có những điều kiện thuận lợi
trên?
Để trả lời cho câu hỏi này nhà kinh tế học ngời Anh là David
Ricardo(1772-1823) đã chứng minh rằng chuyên môn hoá quốc tế đều có lợi
Nguyễn Văn Dũng
11
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
mọi quốc gia. Và ông gọi đây là quy luật lợi thế tơng đối hay lý thuyết về lợi
thế so sánh.
Quy luật lợi thế tơng đối chỉ ra rằng ngay cả khi một nớc kém hiệu quả
hơn (kém lợi thế tuyệt đối hơn) một nớc khác trong việc sản xuất cả hai loại
hàng hoá khác nhau vẩn có thể có lợi khi trao đổi hàng hoá với nhau bằng
cách chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà nớc
mình có bất lợi tuyệt đối nhỏ hơn ( có lợi thế tơng đối) và nhập khẩu những
hàng hoá mà nớc mình có bất lợi tuyệt đối lớn hơn.
Thơng mại quốc tế ngày nay dựa trên cơ sở của lợi thế tơng đối là chủ
yếu và đây mới thực sự là nguồn gốc của thơng mại quốc tế. Lợi thế tơng đối
ngày nay giữa các nớc rất đa dạng. Mọi quốc gia đều có thể tham gia vào hợp
tác kinh tế quốc tế và thơng mại quốc tế điều đó chứng tỏ rằng có rất nhiều cơ
sở để hình hành quan hệ buôn bán quốc tế giữa các nớc với nhau. Để chứng
minh cho điều này hàng loạt lý thuyết mới về thơng mại quốc tế đã ra đời nh:
Lý thuyết về sự tơng quan các nhân tố của Hecsher-Ohlin.
Lý thuyết về thơng mại quốc tế dựa trên sự khác biệt về công nghệ.
Lý thuyết về thơng mại quốc tế dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
Lý thuyết về thơng mại quốc tế dựa trên sự khác biệt về sản phẩm.

Tất cả những lý thuyết này đều nhằm mục đích đi tìm bản chất của lợi
thế tơng đối và mỗi lý thuyết thì tìm ra đợc một nguồn gốc của lợi thế tơng đối
trên cơ sở những giả định của lý thuyết đó.
Nhng dù có theo trờng phái kinh tế nào đi chăng nữa thì chúng ta đều
phải thừa nhận rằng thơng mại quốc tế ngày nay chủ yếu dựa trên những lợi
thế tơng đối, và đó là cơ sở để các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc
gia đang phát triển mạnh dạn tham gia vào thơng mại quốc tế.
II. căn cứ nhu cầu thị trờng Mỹ về hàng thuỷ sản .
Mỹ là thị trờng nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 thế giới (sau Nhật Bản) và
tăng đều trong nhiều năm qua. Năm 1992, Mỹ nhập khẩu 6,02 tỷ USD thuỷ
sản, năm 1995 tăng lên 7,14 tỷ USD, năm 1998 là 8,45 tỷ USD và 1999 là 9,3
tỷ USD.
Trớc năm 1998, nhập khẩu tôm vào Mỹ thấp hơn Nhật Bản, nhng từ năm
1998 Mỹ đã vợt lên thành thị trờng nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới. Mặt hàng
nhập khẩu nhiều nhất vào Mỹ là tôm đông lạnh, với khối lợng nhập khẩu năm
1998 và 1999 đạt trên 300.000 tấn, trị giá trên 3 tỷ USD. Nớc cung cấp tôm
lớn nhất cho Mỹ là Thái Lan, Êquađo, Inđônêxia và ấn Độ. Tuy nhiên, do ảnh
hởng của dịch bệnh, xuất khẩu tôm của Êcuađo vào thị trờng này từ năm 1999
đã giảm đáng kể. Mặt hàng nhập khẩu lớn thứ hai là cá ngừ đóng hộp, năm
1999, nhập khẩu mặt hàng này vào Mỹ đạt 151.000 tấn, trị giá 885 triệu USD
và tăng 32% so với năm 1998. Thái Lan là nhà cung cấp chính cá ngừ hộp cho
thị trờng Mỹ (chiếm trên 50%), tiếp theo là Philippin, Inđônêxia, Đài Loan.
Nguyễn Văn Dũng
12
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
Cá hồi là mặt hàng nhập khẩu lớn thứ 3 của Mỹ (chủ yếu là cá hồi nuôi Đại
Tây Dơng) với giá trị nhập khẩu là 727 triệu USD năm 1999, tiếp theo là tôm
hùm (719 triệu USD).
Mỹ là nớc tiêu thụ thuỷ sản đứng thứ 3 trên thế giới, sau Nhật Bản và
Trung Quốc. Mức tiêu thụ thuỷ sản của Mỹ trung bình trong năm 1994 đến
1997 là 5,78 triệu tấn/năm. Trong năm 1998 và1999 mức tiêu thụ còn cao hơn
nữa.
Cá hộp là mặt hàng thuỷ sản đợc tiêu thụ nhiều nhất ở Mỹ và ở mức khá
ổn định trong những năm gần đây là 4,4 - 4,5 lb/đầu ngời.năm. Trong đó cá
ngừ đóng hộp là mặt hàng chính (3,4lb/đầu ngời.năm). Mặt hàng tiêu thụ lớn
thứ hai là tôm đông lạnh, với mức tiêu thụ bình quân trên đầu ngời trong năm
1996 là 3,19 lb (1,48kg) và 1998 là 3,59 lg (1,63 kg). Ngoài ra, các mặt hàng
khác đợc tiêu thụ khá ở Mỹ là (lb/ngời.năm) : cá hồi (1,7), cá tuyết pollack
(0,54) và nhuyễn thể 2 vỏ (0,89).
III. căn cứ về nguồn hàng xuất khẩu của Việt Nam .
Việt Nam là nớc có nguông thuỷ sản tơng đối phong phú với nhiều loài
có giá trị kinh tế cao và trữ lợng khia thác lớn. Hiện nay ngoài hơn 2000 loài
cá biển còn có trên 70 loài tôm và rất nhiều loại thuỷ sản khác. Với việc áp
dụng khoa học kỹ thuật vào chế biến nh hiện nay đã góp phần đa dạng hoá các
mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam phục vụ cho xuất khẩu. So với trớc đây cơ
cấu mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam không còn chỉ là tôm mà đã
mở rộng ra các sản phẩm khác nh cá tra , cá ba sa, cá phi lê tơi và đông lạnh,
mực ( bao gồm mực khô và mực đông lạnh),cua , ốc sò huyết Ngay cả mặt
hàng tôm hiện nay do trình độ chế biến đợc nâng cao đã giúp cho mặt hàng
nay trở nên cực kỳ phong phú về chủng loại ví dụ nh: tôm đông lạnh, tôm bóc
vỏ, tôm tẩm bột
Có một lợi thuỷ sản hết sức phong phú và đó chính là một cơ sở để các
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản yên tâm về nguồn hàng phục vụ
xuất khẩu sang thị trờng Hoa Kỳ .
IV. yêu cầu về đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam .
Chính sách mơ cửa của Đảng và Nhà nớc cho phép mọi thành phần kinh
tế tham gia vào hợp tác quốc tế. Đối với kinh doanh xuất nhập khẩu là một
ngành còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác công
cuộc đổi mới đất nớc cần có những nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu để phục vụ
cho nhập khẩu những hàng hoá mà trong nớc không có khả năng sản xuất đ-
ợc Chính vì vậy phát triển một ngành ngoại thơng tổng hợp và toàn diện dựa
trên những lợi thế sẵn có của Việt Nam là một yêu càu tất yếu.
Thuỷ sản là một ngành có nhiều tiềm năng nhất trong lĩnh vực nông
nghiệp. Chính vì vậy đòi hỏi đa ngành này trở thành một ngành kinh tế mũi
nhịn đã trở thành một yêu cầu không thể xem nhẹ. Phát triển ngành thuỷ sản
không những để giải quyết công ăn việc làm cho gời lao động trong nớc mà
Nguyễn Văn Dũng
13
Đề án môn học Thơng mại Quốc tế
mục tiêu cơ bản là hớng tới xuất khẩu. Mỹ là một thị trờng rộng lớn với trên
200 triệu dân và có mức thu nhập bình quân cao hàng đầu thế giới, trong khi
đó nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản ở Mỹ lại ngày một tăng mạnh trong khi khả
năng sản lại có hạn, lợng nhập khẩu thuỷ sản cả Mỹ tăng liên tục từ 1997 đến
nay và có xu hớng tiếp tục tăng do cung trong nớc không thể đủ cầu.
Chính vì vậy đòi hỏi đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Hoa Kỳ
là một hớng đi dúng đắn và rất cần thiết đối với thuỷ sản Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Nguyễn Văn Dũng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét