LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh ninh bình, thực trạng và giải pháp": http://123doc.vn/document/1055826-phat-trien-du-lich-sinh-thai-tren-dia-ban-tinh-ninh-binh-thuc-trang-va-giai-phap.htm
Nam.” Báo cáo đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội, 1998
- Kreg Lindberg và Dolnal E-Hawkins (1999), “du lịch sinh thái:
Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý”
- Tổng cục du lịch Việt Nam “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
giai đoạn 2001-2010” tháng 10/2001.
- Và một số công trình khoa học, bài viết khác.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu và các bài viết trên chỉ đề cập
đến vấn đề du lịch dưới các góc độ và phạm vi rộng hẹp khác nhau. Chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về phát triển du
lịch sinh thái ở Ninh Bình. Đề tài: “Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình, thực trạng và giải pháp” không trùng lắp với bất cứ luận
văn hoặc đề tài khoa học nào đã công bố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
* Mục tiêu:
Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch sinh thái, đưa
ra những phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển
du lịch sinh thái ở Ninh Bình tương xứng với tiềm năng sẵn có của tỉnh.
* Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu và tổng hợp một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch sinh thái
+ Phân tích và đánh giá thực trạng của du lịch sinh thái trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình và kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở một số địa
phương trong nước và một số quốc gia trên thế giới.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch
sinh thái ở Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu Du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Luận văn tập trung nghiên cứu số liệu từ năm 1995 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng những quan
điểm cơ bản của Đảng, nhà nước về phát triển du lịch
- Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, so
sánh và phương pháp phân tích, tổng hợp.
6. Đóng góp của luận án
- Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch sinh thái.
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái ở Ninh Bình từ đó đề
xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch sinh thái của tỉnh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch
định chính sách phát triển du lịch, đặc biệt phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh
Ninh Bình và dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn có 3 chương, 9 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
Cho đến nay, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ở
nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi
của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với những người có nhu cầu tham quan
du lịch và nghỉ ngơi. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa
dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang
mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội giải quyết việc làm, nâng
cao thu nhập quốc gia và thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương, nhất là
đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có cảnh quan thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn.
Mặt khác, DLST còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khoẻ cộng
đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi giải trí. Là
loại hình du lịch có xu thế phát triển nhanh trên phạm vi toàn thế giới, ngày
càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia bởi đây là loại
hình du lịch có trách nhiệm, có ảnh hưởng lớn đến việc “xanh hoá” ngành du
lịch thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, phát
triển phúc lợi cộng đồng và đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Do tạo được sự quan tâm của xã hội nên nhiều tổ chức, cá nhân tham
gia nghiên cứu về loại hình du lịch này, mỗi tổ chức cá nhân khi nghiên cứu
đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình:
- Một trong những định nghĩa được coi là sớm về du lịch sinh thái mà
đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội Du lịch Sinh
thái Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch Sinh thái là loại hình du lịch có trách
nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên
bình của người dân địa phương” [12, tr.11].
Định nghĩa này đề cao trách nhiệm của du khách đối với khu vực mà họ
đến thăm đó là trách nhiệm giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến
môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cuộc sống của cư dân địa phương.
- Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Du
lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên
hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các
loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng
đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó" [12, tr.11].
Ở định nghĩa này cũng đề cập đến địa điểm có thể tổ chức các tuor du
lịch sinh thái, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã, và điều quan trọng là giảm
thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và đặc biệt là mang lại
những lợi ích kinh tế cho cộng cư dân địa phương và những người bản địa
làm việc trực tiếp trong ngành du lịch.
- Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organisation):
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những
khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để
chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu
vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu
vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào
công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu
vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao
được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với
người dân bản địa và du khách đến thăm [12, tr.11].
Có thể nói đây là một định nghĩa đầy đủ nhất nội dung cũng như những
đặc điểm của DLST, đó là địa điểm để tổ chức được một tuor du lịch, mục
đích chuyến đi của du khách đặc biệt là việc giáo dục và nâng cao nhận thức
cho du khách cùng với nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng như du khách
trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá để đảm
bảo cho sự phát triển bền vững ở những nơi mà du khách tới thăm quan.
Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tháng 9-1999
tại Hà Nội: "Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn
hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát
triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" [36, tr. ].
Có thể nói đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam về du lịch sinh
thái, nó mang đầy đủ những ý nghĩa và nội dung của loại hình du lịch này. Nó
được coi là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu và ứng dụng thực tế việc phát
triển du lịch sinh thái ở Việt Nam.
Mặc dù có thể khác nhau về diễn đạt và cách thể hiện nhưng trong các
định nghĩa về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung ở bốn điểm:
Thứ nhất, phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ
hoặc tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa.
Thứ hai, có khả năng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính
tự nhiên, văn hoá và xã hội.
Thứ ba, có tính giáo dục môi trường cao và có trách nhiệm với môi trường.
Thứ tư, phải mang lại lợi ích cho cư dân địa phương và có sự tham gia
của cộng đồng cư dân địa phương.
Ngày nay, người ra rất hay xử dụng thuật ngữ du lịch sinh thái để giới
thiệu, quảng bá cho các điểm du lịch, tuor du lịch bởi vậy khi xem xét, đánh
giá chúng ta cần phải dựa vào các đặc trưng của mỗi loại hình du lịch để có
thể phân biệt đúng về hoạt động du lịch đó là Du lịch sinh thái hay là du lịch
dựa vào thiên nhiên vì các loại hình này có hình thức tương đối giống nhau
nếu không hiểu rõ bản chất người ta sẽ dễ bị nhầm lẫn.
1.1.2. Phân biệt du lịch sinh thái với một số loại hình du lịch
tương tự
* Phân biệt DLST với DL tự nhiên (nature tourism):
Du lịch tự nhiên, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) là loại hình du
lịch với động cơ chính của khách du lịch là quan sát và cảm thụ tự nhiên.
Khái niệm du lịch tự nhiên cho thấy nó mang một ý nghĩa rất rộng bao
trùm cả DLST và các loại hình du lịch khác. Theo đó, bất cứ hoạt động du
lịch nào liên quan đến thiên nhiên đều được coi là du lịch tự nhiên. Kèm theo
đó không có yêu cầu mang tính trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư địa
phương hoặc ràng buộc nào khác đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
du lịch. DLST đòi hỏi tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng
cư dân địa phương.
* Phân biệt DLST với du lịch mạo hiểm (adventure tourism):
Theo tổ chức du lịch Quebec, Canada: du lịch mạo hiểm là hoạt động
thể chất ngoài trời hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực tự
nhiên nhất định (khu vực hoang dã, tách biệt hoặc đặc thù…). Những hoạt
động này thường có tính mạo hiểm và mức độ rủi ro tuỳ thuộc vào điều kiện
môi trường (sự cách ly, các tính chất địa lý…) bản chất của các hoạt động và
các phương tiện vận tải được sử dụng.
Khái niệm này cho thấy đây là loại hình du lịch đến với thiên nhiên.
Điểm chú ý là loại hình du lịch này không chú ý đến việc tìm hiểu về hệ sinh
thái mà khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ mục đích mạo hiểm,
chinh phục thiên nhiên, thậm chí sẵn sàng sử dụng các phương tiện kỹ thuật
hiện đại để hỗ trợ. Loại hình du lịch mạo hiểm nhằm chứng tỏ khả năng chinh
phục tự nhiên của con người, nó hoàn toàn khác với DLST vì DLST đi tìm sự
hoà hợp, cùng chung sống hài hoà giữa con người với thiên nhiên (các hệ sinh
thái có các loài động thực vật cùng cư ngụ trong đó)
* Phân biệt DLST với các loại hình du lịch có chọn lựa (alternative tourism):
Du lịch có chọn lựa là loại hình du lịch mới, được đưa ra nhằm thúc
đẩy sự trao đổi thông qua du lịch giữa các thành viên của các cộng đồng khác
nhau. Nó tìm kiếm sự hiểu biết, gắn kết và bình đẳng giữa các thành viên
tham gia trong đó.
Đây là một tập hợp các loại hình du lịch được đưa ra để phân biệt du
lịch đại trà (Du lịch truyền thống). Du lịch đại trà đã dần bộc lộ các tác hại
tiêu cực của nó tới văn hoá, xã hội và môi trường ở nơi đến du lịch. Các loại
hình du lịch lựa chọn ra đời một mặt nhằm thoả mãn đúng hơn các mong
muốn của người tiêu dùng du lịch trong bối cảnh toàn cầu hoá. Với ý nghĩa
này DLST thực chất là một trong những loại hình du lịch lựa chọn.
1.1.3. Đặc điểm của du lịch sinh thái
Mặc dù chưa có một khái niệm thống nhất về DLST. Nhưng trong nội
hàm của các khái niệm đều hàm chứa bốn đặc điểm cơ bản và sự khác biệt
của DLST với các loại hình du lịch khác. DLST không đơn giản chỉ là đưa ra
một loại sản phẩm mới của ngành du lịch mà hơn thế nữa nó là động lực của
sự phát triển, là một nhân tố để phát triển bền vững. DLST có những đặc điểm
chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, DLST được thực hiện tại những nơi hoang sơ hoặc tương đối
hoang sơ và có môi trường tự nhiên đa dạng phong phú.
Bởi vì khách du lịch sinh thái khi thực hiện một chuyến đi họ mong
muốn trở về với những nơi có môi trường trong lành và chưa bị tác động
nhiều bởi con người ở đó họ được hoà mình với thiên nhiên để được khám
phá, được nghiên cứu tự nhiên và văn hoá bản địa và được thưởng thức bầu
không khí trong lành, thoát khỏi cuộc sống đầy áp lực của công việc và ô
nhiễm môi trường.
Những nơi có môi trường tự nhiên là những nơi có bề dày về sự hình
thành và phát triển của các hệ động thực vật và con người. Một vài ha rừng
thậm chí hàng ngàn ha rừng tự trồng cho dù có mang ý nghĩa tích cực như
“phủ xanh đất trống đồi trọc” cũng không thể nói có thể làm DLST được. Để
có thể làm được DLST phải là nơi có tài nguyên tự nhiên dồi dào mà cụ thể là
các hệ sinh thái được làm giàu bởi rất nhiều các loài động thực vật khác nhau.
Những yếu tố từ cây cối, nguồn nước, bầu khí quyển, đất đai cũng được tính
đến. Điểm chú ý ở đây là môi trường tự nhiên được đề cập phải là những nơi
còn tương đối nguyên sơ, chưa bị hoặc ít bị can thiệp bởi bàn tay con người.
Những tài nguyên đó được hiện hữu dưới hình thức là các vườn quốc gia, các
khu dự trữ thiên nhiên hay các khu vực văn hóa lịch sử có gắn với không gian
và tài nguyên thiên nhiên phong phú.
Rất nhiều thứ được con người làm ra trong thời đại khoa học - công
nghệ phát triển. Thậm chí con người có thể làm ra những rôbốt có khả năng
như người thật với mục đích phục vụ cho cuộc sống của họ. Nhưng hai chữ
“sinh thái” trong DLST đề ra một nguyên tắc bất dịch: “hãy để thiên nhiên
như nó vốn đã thế”, đó là quyết định thông minh nhất trong thỏa thuận cùng
tồn tại giữa con người và thế giới tự nhiên.
DLST không cho phép con người can thiệp vào các hệ sinh thái tự
nhiên, cho dù đó là những can thiệp mang lại lợi ích kinh tế-xã hội cho con
người và cho dù con người chấp nhận đền bù bằng vật chất cho những thiệt
hại mà họ định gây ra đối với tự nhiên
Như vậy, DLST thường được thực hiện ở các khu bảo tồn tự nhiên, các
vườn quốc gia, ở những nơi có mật độ dân số thấp và tài nguyên thiên nhiên
phong phú, ở những khu vực có giá trị cao về môi trường tự nhiên như: hệ
sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang
dã phong phú.
Thứ hai, Du lịch sinh thái hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc
tính tự nhiên, văn hóa, xã hội tại điểm thăm quan.
Các nhà kinh doanh DLST ngoài việc phải quan tâm nuôi dưỡng, quản
lý chặt chẽ nguồn tài nguyên để nó tồn tại và hấp dẫn du khách, họ phải đóng
góp tài chính cho chính quyền sở tại, những cơ quan quản lý các tài nguyên từ
những khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch của mình.
Những nguồn tài chính này làm tăng thêm ngân sách cho các khu vực nơi tổ
chức hoạt động DLST để bù đắp cho các khoản chi phí như: quản lý, trồng
thêm cây xanh, tôn tạo, trùng tu… Bên cạnh đó, những tiêu chí và đòi hỏi cao
hơn của DLST đối với công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn các hệ sinh thái
khiến các nhà kinh doanh du lịch sinh thái phải chuẩn bị kỹ lưỡng và đưa ra
những yêu cầu cao hơn đối với những hướng dẫn viên và với các khách du
lịch mà mình phục vụ.
Du khách của loại hình DLST thường là những người yêu mến, thân
thiện với thiên nhiên, họ muốn đi du lịch là để được tìm hiểu và nghiên cứu
những nơi họ đến. Họ xác định nhu cầu du lịch của mình là tìm hiểu và
thưởng ngoạn các hệ sinh thái vì thế họ luôn cố gắng hạn chế việc xâm hại và
phá huỷ những tài nguyên quý hiếm cả về mặt hữu hình lẫn vô hình của môi
trường. Ý thức đúng đắn khi đi du lịch giúp du khách cân nhắc và suy nghĩ
trước mỗi hành động có khả năng tác động tới môi trường xung quanh. Do đó
trong và sau mỗi chuyến đi họ thường có những tổng hợp đánh giá của riêng
mình. Những hoạt động nghiên cứu, khám phá, tổng hợp của họ ít nhiều cũng
có những đóng góp và giúp ích cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên,
văn hoá, xã hội nơi họ đến thăm quan.
Những du khách, nhất là du khách nước ngoài khi đến thăm quan vườn
quốc gia Cúc Phương họ có thể nghiên cứu về loài bướm, về voọc quần đùi
trắng, về các loại thực vật điển hình của vườn như: chò chỉ. Kim giao… hay
du khách khi đi thăm quan các bản làng dân tộc (như bản Lác, Mai Châu -
Hoà Bình; chợ Tình Sapa…) việc họ đến thăm quan những nơi này thực sự
làm sống lại các làn điệu hát múa dân gian truyền thống của dân tộc Mường,
hay làm sống lại các ngành nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, nấu rượu
cần…bản thân họ cũng tham gia vào việc sưu tầm tư liệu, nghiên cứu thậm
chí xuất bản những cuốn sách có giá trị về các nền văn hoá đặc trưng nơi họ
đến thăm, đưa ra những sáng kiến bảo tồn và phát huy những nền văn hóa đó.
Các tổ chức, cá nhân sau khi tham gia vào các tour DLST họ được tận
mắt chứng kiến cảnh quan môi trường, tài nguyên thiên nhiên nơi họ đến
thăm và đặc biệt được giáo dục, được hiểu biết thêm về môi trường và tầm
quan trọng của hệ sinh thái họ có thể đóng góp các nguồn lực tài chính, hỗ trợ
về mặt kiến thức khoa học, kinh nghiệm quản lý cho các rừng quốc gia, các
khu dự trữ thiên nhiên phục vụ cho du lịch sinh thái.
Cư dân địa phương có thu nhập từ việc tham gia vào hoạt động du lịch
sinh thái từ đó sẽ hạn chế việc khai thác tài nguyên mang tính tiêu cực như:
săn bắn động vật quý hiếm, chặt cây đốn củi, phá rừng làm rẫy… gây ảnh
hưởng xấu tới các loài động, thực vật có giá trị về thẩm mỹ và kinh tế cũng
như môi trường sống xung quanh họ.
Tất cả những điều trên nói lên rằng DLST có khả năng hỗ trợ tích cực
cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá, xã hội tại điểm thăm quan.
Thứ ba, Các hoạt động mang tính giáo dục, giảng giải nâng cao nhận thức
về hệ sinh thái và môi trường sống là nội dung quan trọng của Du lịch sinh thái.
DLST là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin vì nó có khả năng
đưa con người tiếp cận trực tiếp và thấy rõ vai trò của thiên nhiên đối với đời
sống con người.
Một trong những đặc điểm nổi trội và khác với các hình thức du lịch
khác là DLST đẩy mạnh các hoạt động mang tính giáo dục về các hệ sinh thái
và môi trường sống. Các hoạt động giáo dục này bao gồm việc giảng giải về
lịch sử, nguồn gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tương tác qua
lại giữa các loài động thực vật và vai trò của chúng trong thiên nhiên. DLST
hướng dẫn cách thức để những người làm du lịch và khách du lịch tiến hành
hoạt động du lịch đúng cách với thái độ trân trọng, giữ gìn và bảo vệ môi
trường sống. Các hoạt động giáo dục, chỉ dẫn cách thức du lịch đúng đắn mà
DLST thực hiện có thể bằng nhiều cách khác nhau: phương pháp hướng dẫn,
thuyết minh trực tiếp từ hướng dẫn viên tới khách du lịch, các tờ giới thiệu, tờ
bướm thông tin về du lịch, các mô hình, mô phỏng, các phương tiện nghe nhìn.
Thứ tư, Dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên và nhân văn du lịch
sinh thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa.
Khi du lịch phát triển và mở rộng, nhiều địa phương đã thoát khỏi cảnh
đói nghèo, người dân được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, cơ sở hạ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét