Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013
Môi trường và pháp triển bền vững nguyễn đình hoè
5
• Chương 5 giới thiệu một số phép đo đơn giản giúp đánh giá độ bền vững địa
phương.
• Chương 6 trình bày về định hướng chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững tại Việt Nam.
Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác giả mong nhận
được ý kiến đóng góp của người đọc để có thể nâng cao chất lượng của giáo trình.
Tác giả
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG
1.1. MÔI TRƯỜNG LÀ GÌ ?
Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) Việt Nam sửa đổi (2006) có định nghĩa :
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh
vật".
“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp ; phòng ngừa, hạ
n chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi
trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường ; khai thác, sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên ; bảo vệ đa dạng sinh học".
"Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như : đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái, và các hình thái vật chất
khác".
Các yếu tố xã hội - nhân vă
n chưa được coi là yếu tố môi trường.
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy
đủ hơn về môi trường :
“Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các
điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của
con người trong thời gian bất kỳ"
Có thể phân tích định nghĩ
a này chi tiết hơn như sau :
- Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm :
+ Đất trồng trọt ;
+ Lãnh thổ ;
+ Nước ;
+ Không khí ;
+ Động, thực vật ;
+ Các hệ sinh thái ;
+ Các trường vật lý (nhiệt, điện, từ, phóng xạ).
- Các thành tố xã hội - nhân văn (XHNV) gồm :
+ Dân số và động lực dân cư, tiêu đùng, xả thải ;
+ Nghèo đói ;
7
+ Giới ;
+ Dân tộc, phong tục, tập quán, văn hoá, lối sống, thói quen vệ sinh ;
+ Luật, chính sách, hương ước, lệ làng .
+ Tổ chức cộng đồng, xã hội v.v .
- Các điều kiện tác động (chủ yếu và cơ bản là hoạt động phát triển kinh tế) gồm:
+ Các chương trình và dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự chiến tranh .
+ Các hoạt động kinh tế : nông nghi
ệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, du
lịch, xây dựng, đô thị hoá .
+ Công nghệ, kỹ thuật, quản lý.
Ba nhóm yếu tố trên tạo thành ba phân hệ của hệ thống môi trường, bảo đảm
cuộc sống và sự phát triển của con người với tư cách là thành viên của một cộng đồng
hoặc một xã hội.
1 .2. CẤU TRÚC HỆ THỐNG MÔI TRƯỜNG
Các phân hệ nói trên và m
ỗi thành tố trong từng phân hệ, nếu tách riêng, thì
thuộc phạm vi nghiên cứu và tác động của các lĩnh vực khoa học khác, không phải của
lĩnh vực khoa học môi trường.
Ví dụ :
- Đất trồng trọt là đối tượng nghiên cứu của khoa học thổ nhưỡng ;
- Dân tộc, văn hoá thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn ;
- Xây dựng, công nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế.
Nếu xem xét, nghiên cứ
u, điều khiển, quản lý riêng rẽ từng thành tố, từng phân
hệ, thì vấn đề môi trường bị lu mờ và không được đặt đúng vị trí.
Vấn đề môi trường chỉ được phát hiện và quản lý tốt khi xem xét môi trường
trong tính toàn vẹn hệ thống của nó. Môi trường có tính hệ thống. Đó là các hệ thống
hở, gồm nhiều cấp, trong đó con người và các yếu tố xã hội - nhân văn, thông qua các
điều kiện tác động, tác động vào hệ thống tự nhiên. Không thể có vấn đề môi trường
nếu thiếu hoạt động của con người. Trong bất cứ vấn đề môi trường nào cũng có đầy
đủ các thành tố của ba phân hệ :
- Phân hệ sinh thái tự nhiên : tạo ra các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng,
nơi cư trú và nơi chứa đựng chất thải.
- Phân hệ xã hội - nhân văn : t
ạo ra các chủ thể tác động lên hệ tự nhiên.
- Phân hệ các điều kiện : tạo ra các phương thức, các kiểu loại, các mức độ tác
động lên cả hai hệ tự nhiên và hệ xã hội nhân văn. Những tác động lên hệ tự nhiên gây
ra do con người và hoạt động phát triển của con người được gọi là tác động môi
8
trường. Những tác động ngược lại của hệ tự nhiên lên xã hội và hoạt động của con
người được gọi là sức ép môi trường.
Do môi trường có tính hệ thống nên công tác môi trường đòi hỏi những kiến thức
đa ngành, liên ngành. Những quyết định về môi trường chỉ dựa trên một lĩnh vực
chuyên môn nhất định là không hoàn hảo và không hiệu quả, mà cần dựa trên sự hợp
tác cửa nhiề
u ngành (hình 1.1 và 1.2) . Quản lý môi trường chính là điều phối sự hợp
tác đó trên cớ sở thoả hiệp tự nguyện và bắt buộc của các ngành nhằm thực hiện các
quy định luật pháp về BVMT.
Hình 1.1. Sự vận hành thiếu hợp tác của các hệ thống trong xã hội
Hình . 1 cho thấy phát triển kinh tế không chú ý đến bảo tồn tự nhiên và phúc lợi
nhân văn. Ở đây không có lĩnh vực cho quản lý môi trường, không có địa bàn cho
khoa học môi trường, mà chỉ có lĩnh vực của các ngành quản lý và khoa học truyền
thống.
Hình 1.2 cho thấy tính hệ thống của môi trường trong phát triển kinh tế có tính.
đến bảo tồn hệ tự nhiên và đảm bảo phúc lợi nhân văn. Đó là phát triển bền vững.
9
1.3. CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG MÔI TRƯỜNG - Ô NHIỄM, SUY THOÁI
VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 . Chức năng của môi trường
Hệ thống môi trường có bốn chức năng cơ bản :
- Cung cấp nơi sống cho con người (nơi cư trú an toàn và đủ điều kiện để phát
triển các phẩm cách cá nhân và cộng đồng, tạo dựng bản sắc văn hoá) ;
- Cung cấp nguyên liệu và nă
ng lượng ;
- Chứa đựng và tự làm sạch chất thải ;
- Cung cấp (lưu giữ) thông tin cho các nghiên cứu khoa học.
1 .3.2. Suy thoái môi trường
Suy thoái môi trường là sự giảm khả năng đáp ứng 4 chức năng cơ bản nói trên
của hệ thống môi trường. Suy thoái môi trường có các mặt biểu hiện sau :
- Mất an toàn nơi cư trú (do sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường và mất ổn
định xã h
ội ;
- Cạn kiệt tài nguyên (do khai thác quá mức, sử dụng không hợp lý và do biến
động :điều kiện tự nhiên) ;
- Xả thải quá mức, ô nhiễm.
Suy thoái môi trường thường là quá trình chậm, khó định lượng chính xác, khó
(nhưng không phải là không thể) đảo ngược nên đòi hỏi phải được can thiệp bằng một
chiến lược, bằng các chương trình phát triển bền vững (PTBV). Ví dụ điển hình của
suy thoái môi trường là suy thoái đất.
Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng, gồm :
- Biến động của thiên nhiên theo chiều hướng không thuận lợi cho con người
như: lụt, hạn hán, động đất .
- Khai thác tài nguyên quá khả năng tự phục hồi ;
- Không xác định rõ quyền sử dụng/sở hữu tài nguyên ;
- Thị trường yếu kém ;
- Chính sách yếu kém ;
- Mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế tiến t
ới xây dựng một xã
hội tiêu thụ ;
- Bùng nổ dân số, nghèo đói (hoặc xa hoa) và bất bình đẳng.
1.3.3. Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự tích luỹ trong môi trường các yếu tố (vật lý hoá học,
10
sinh học) vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường, khiến cho môi trường trở nên
độc hại đối với con người, vật nuôi, cây trồng (hình l.3). Ô nhiễm môi trường là yếu tố
có thể định lượng được.
Hình 1.3. Mô hình ô nhiễm "yếu tố A” trong hệ thống môi trường.- Yếu tố vật lý : bụi,
tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, nhiệt, điện, từ trường, phóng xạ;
- Yếu tố hoá học : các chất khí, lỏng và rắn ;
- Yếu tố sinh học : vi trùng, ký sinh trùng, virut.
Tổ hợp các yếu tố trên có thể làm tăng mức độ ô nhiễm lên rất nhiều.
Các tác nhân gây ô nhiễm xuất phát từ nguồn ô nhiễm, lan truy
ền theo các
đường: nước mặt, nước ngầm, không khí, theo các vecto trung gian truyền bệnh (côn
trùng, vật nuôi), người bị nhiễm bệnh, thức ăn (của người hoặc động vật).
Nguồn ô nhiễm gồm hai loại :
- Nguồn điểm (ví dụ bãi rác, cống xả) ;
- Nguồn điện (ví dụ khu vực nông nghiệp).
Mặc dù chất gây ô nhiễm có thể có từ nguồn gốc tự nhiên, nhưng phầ
n lớn các
nguồn ô nhiễm là từ nguồn nhân tạo, liên quan đến hoạt động sản xuất và hoạt động
sống của con người. Gần đây còn xuất hiện khái niệm "ô nhiễm văn hoá", "ô nhiễm xã
hội" đo hành vi và lối sống của con người, gây hại cho văn hoá, thuần phong mỹ tục và
trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, chưa có tiêu chuẩn môi trường nào quy định mức độ
các hành vi này.
Ô 1.1. TÓM TẮT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ SUY THOÁI ĐẤT
1. Ô nhiễm nước
Các yếu tố đánh giá độ nhiễm :
- Tác nhân gây ô nhiễm: các yếu tố vật lý (pH, độ màu, độ đục, chất rắn tổng số -
gồm chất rắn lơ lửng và chất rắn hoà tan. độ dẫn điện, độ axit, độ kiềm, độ cứng) ; các
yếu tố hoá học (DO, BOD, COD, NH
4+
, NO
3
-
, NO
2
-
, P, CO
2
, SO
2
2-
, Cl
-
, các hợp chất
phenol, hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV), lignin, kim loại năng) ; các yếu tố sinh học
(E.Con. Coliform, Streptococus feacalis, tổng số vi khuẩn kỵ khí và háo khí).
11
- Bệnh dịch liên quan : tả, lỵ trực khuẩn, thương hàn, phó thương hàn, tiêu chảy
trẻ em, viêm gan siêu vi trùng (có thể truyền qua sò, hến), lỵ amip, giun chỉ, sán ruột,
giun gan, sán hydatit, sán máng, sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh mù sông do giun
Onchoceare, bệnh sốt vàng, bệnh ngủ Châu Phi.
2. Ô nhiễm khí
- SO
2
toát nhiên liệu hoá thạch) : gây mưa axit, khói mù axit – smog, giảm chức
năng hô hấp, viêm phế quản mãn tính thạch cao hoá các công trình xây dựng bằng đá.
- NO
X
(đôi Sinh khối) : tạo smog, tạo hợp chất PAN gây cháy lá cây có hoa, chảy
nước mắt và viêm phế quản. No tước đoạt ôxy của máu.
- F (khói nhà máy) : gây cháy lá cây. biến dạng xương. mủn răng.
- CFC
S
(dung môi máy lạnh, bình xịt .) : gây hiệu ứng nhà kính và thông tầng
ôzôn.
- CO (đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu) : nhiễm độc hô hấp.
- CO
2
( núi lửa phun, đốt nhiên liệu) : khí nhà kính chủ yếu.
- Pb(C
2
H
5
)
4
( đốt xăng pha chì) : nhiễm độc thần kinh, cao huyết áp, đột quỵ,
nhồi máu cơ tim, trẻ chậm lớn.
- Amiăng (công nghiệp luyện kim và xây dựng) : gây ung thư phổi.
- Hoá chất BVTV (vùng trồng trọt) : nhiễm độc thần kinh, hại gan, thận, biến đổi
di truyền.
- Hydrôcacbua thơm đa vòng (đốt xăng dầu, sơn, chất thơm) : gây ung thư.
- Chất phóng xạ (nổ hạt nhân, điện hạt nhân, bệnh viện, phòng thí nghiệm) : gây
tổn thương tế bào và cơ chế di truyền.
-Vi trùng, vi rút : gây lao, bạch hầu, tụ cầu, cúm.
- Tiếng ồn : đo bằng deciben (dB).
Mức khó chịu: ≥45dB
Mức tai biến : ≥100dB
Ngưỡng nghe của tai : 0 ÷ 180 dB
3. Ô nhiễm đất:
- Các tác nhân gây ô nhiễm : phân bón vô cơ, hoá chất BVTV, chất diệt cỏ, chất
phóng xạ, kim loại nặng, nhiều loại vi trùng và ký sinh trùng (trực khuẩn lỵ, phảy,
khuẩn tả,trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, lỵ amip, giun đũa, giun xoắn, giun
móc, xoắn trùng vàng da, trực trùng than, nấm ăn da, uốn ván các loại vinh bại liệt,
viêm màng não, sốt phát ban, viêm cơ tim. viêm não trẻ sơ sinh)
- Nguồn phát xả ô nhiễm chủ yếu là chất thải của người và động vậtphân bón, hoá
12
chất BVTV và chất độc dùng trong chiến tranh.
4. Thoái hoá đất:
- Mặn hoá thứ sinh do bốc hơi, do tưới;
-Xói mòn do nước và do gió ;
-Axit hoá thứ sinh : mưa axit. hoạt động dinh dưỡng chọn lọc của vị cây trồng, phân
khoáng, ôxy hoá pyrit (FeS
2
) ;
- Đá ong hoá, karst hoá;
- Rửa trôi, bạc màu ;
- Nhiễm mặn ;
- Cát lấp lũ quét ;
- Bùng phát cỏ dại.
1. 3.4. Sự cố môi trường và tai biến môi trường:
Sự cố môi trường là những thiệt hại không mong đợi xảy ra bởi các quá trình tai
biến vượt quá ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường. Quá trình tai biến là những
quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường, đó là một đặc tính vốn có, phản
ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn định của bất cứ hệ thống môi trường nào.
Các sự cố có thể có ngu
ồn gốc tự nhiên hay nhân sinh, nhưng thường là do phối hợp cả
hai kiểu nguồn gốc đó, vì chính các quá trình nhân sinh thường đóng góp đáng kể vào
sự cố thông qua việc làm thay đổi tính nhạy cảm tai biến của cộng đồng.
Các sự cố có thể gồm loại cấp diễn - xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột như động
đất, cháy rừng, lũ lụt . và loại trường diễn - xảy ra chậm chạ
p, trường kỳ, từ từ như
nhiễm mặn, sa mạc hoá, . Các sự cố cấp diễn thường nhanh chóng kết thúc và được
xen kẽ bằng một khoảng thời gian dài bình yên không sự cố. Trong khi đó, các sự cố
trường diễn thường diễn ra liên tục, trường kỳ.
Ứng xử sự cố môi trường chỉ là giải quyết tình thế. Chiến lược ứng xử lâu bền là
nhằm vào quá trình gây ra sự
cố quá trình tai biến. Quá trình ứng xử tai biến gồm hai
cách tiếp cận :
- Cách tiếp cận nhằm vào tai biến, để giảm thiểu thiệt hại, giảm mức độ nghiêm
trọng của tai biến, để giúp cho cộng đồng "tránh xa hiểm hoạ".
- Cách tiếp cận nhằm vào cộng đồng, với mục tiêu là giảm độ nhạy cảm tai biến
của cộng đồng, tức là tăng sức chố
ng chịu, giúp cho cộng đồng "sống cùng tai biến"
(hình 1 .4).
Tai biến môi trường, không phải là một sự kiện, mà là một quá trình Quá trình tai
biến môi trường gồm ba giai đoạn :
13
• Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ) : các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống,
nhưng chưa phát triển gây mất ổn định. Hệ thống môi trường luôn luôn có 2 tính chất :
- Tính chống chịu : tạo ra khả năng của hệ thống chịu được các hành động phát
triển của con người. Tính chống chịu đồng thời cũng là tính tự điều khiển của môi
trườ
ng.
- Tính bất ổn định, còn gọi là tính bất trắc, tạo ra các quá trình tai biến.
Hình 1.4. Hai hướng tiếp cận trong ứng xử tai biến môi trường
•
Giai đoạn phát triển : Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái
mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường.
• Giai đoạn sự cố môi trường : Quá trình tai biến vượt qua ngưỡng an toàn, gây
thiệt hại cho con người (sức khoẻ, tính mạng, sản nghiệp). Những sự cố gây thiệt hại
lớn được gọi là tai ho
ạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm hoạ môi trường.
Tai biến môi trường xảy ra trong toàn bộ hệ thống môi trường. Tuy nhiên, mỗi
phân hệ của hệ thống này lại là một hệ ở bậc thấp hơn. Tai biến xảy ra trong phấn hệ
sinh thái tự nhiên, được gọi là tai biến sinh thái. Một bộ phận của tai biến sinh thái vận
hành trong tổ phần động, thực vật c
ủa phân hệ, được gọi là tai biến sinh học. Như vậy
tai biến sinh học là sự bùng phát dịch bệnh ở người, dịch hại ở vật nuôi - cây trong
hoặc động, thực vật hoang dại, và sự suy thoái thảm hại tài nguyên sinh học do khai
thác quá mức.
An toàn sinh học là một bộ phận của tai biến sinh học, liên quan với lĩnh vực
công nghệ sinh học. An toàn sinh học là sự an toàn khi đưa vào môi trường các sinh
vậ
t đã được biến nạp di truyền - nghĩa là các loài mang bộ đen không có sẵn trong tự
nhiên.
Tai biến sinh học là quá trình phổ biến nhất, do đó hay gặp nhất trong đời sống
hằng ngày. Chia theo nguồn gốc có thể gặp các loại tai biến sinh học như sau :
- Các ổ dịch địa phương :sốt rét, sán máng, dịch hạch, sán lá phổi, sốt xuất huyết v.v .
14
- Nuôi trồng thiếu tính toán các loài đã bị biến nạp di truyền (ví dụ : giống ngô
không nảy mầm).
- Mất cân bằng loài do :
+ Đưa vào hệ một loài lạ có tính cạnh tranh cao (ví dụ ốc bươu vàng) ;
+ Lấy ra khỏi hệ một vài loài khiến cho một vài loài còn lại trong hệ bùng phát
thành dịch hại (ví dụ dịch chuột .).
- Ô nhiễm, gây bùng phát các loài thích nghi có khả năng gây hại do các loài này
trở nên quen với môi trường ô nhiễm (ví dụ t
ảo độc, rầy nâu .). Việc sử dụng lan tràn
thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm này.
- Vũ khí sinh hoá : đạn pháo có vi trùng dịch hạch, bom có vi khuẩn than .
- Khai thác quá mức (phá rừng, đánh cá bằng chất nổ .).
1.4. AN NINH MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN MÔI TRƯỜNG :
- An ninh môi trường:là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng
đảm bảo điều kiện sống an toàn của con người cư trú trong hệ thống đó. Tr
ạng thái an
ninh của riêng phan hệ sinh thái tự nhiên được gọi là an ninh sinh thái. Đó chỉ là một
khía cạnh của an ninh môi trường. Quá trình gây mất ổn định trong hệ thống môi
trường chính là tai biến môi trường. Thuật ngữ "an ninh" thường được hiểu theo quy
mô rộng, thường là ở mức quốc gia, khu vực hay quốc tế. Trong phạm vi các địa
phương hẹp, người ta thường dùng thuật ngữ an toàn môi trường. Ví dụ rò rỉ phóng xạ
t
ừ một bệnh viện, cháy một khu rừng, một trận lũ quét tại một huyện, một trận dịch tả
do ô nhiễm nước tại một địa phương, một trận ngộ độc thức ăn do ô nhiễm thực phẩm
tại một xí nghiệp . thường được coi là thuộc phạm vi "an toàn môi trường". Những sự
kiện lớn hơn như suy thoái tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính, sa mạc hoá di
ện rộng . thuộc
lĩnh vực "an ninh môi trường". Tuy nhiên, cũng rất khó phân định rạch ròi giới hạn
giữa "an ninh" và "an toàn".
Tỵ nạn môi trường là việc con người buộc phải rời nơi ở truyền thống của mình tạm
thời hay vĩnh viễn do sự huỷ hoại môi trường gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ
(Chương trình môi trường Liên hợp quốc, 1985). Trên thế giới n
ăm 1995 có khoảng
25 triệu người tỵ nạn môi trường, trong đó :
- Ethiopia : 1,5 triệu
- Somali : 500.000
- Su dan : 2 triệu
- Sahara : 5 triệu
- Cận Sahara : 7 triệu
- Trung Quốc : 6 triệu
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét